Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2013

Thơ về Bác VÕ NGUYÊN GIÁP

BBT- Xin đăng 2 bài của nhà thơ Trần Nhương nói lên nỗi lòng với Võ đại tướng từ trang thơ của trannhuong.com.


Võ Nguyên Giáp

Trần Nhương
Thứ sáu ngày 25 tháng 10 năm 2013 5:33 AM

  

Từ một cá thể
Võ Nguyên Giáp hóa vào đồng bào
Nhân dân mỗi người có một Võ Nguyên Giáp


Võ Nguyên Giáp là viên ngọc Việt
Bôi đen cũng không đen
Vùi sâu vẫn sáng
Không đao to búa lớn
Không kể công hết sức cực kì
Những lá thư cuối đời vẫn nặng lòng vì nước
Trái tim già cùng nhịp đập nhân dân…
Võ Nguyên Giáp là Điện Biên
Võ Nguyên Giáp là Việt Nam chiến thắng
Võ Nguyên Giáp là Phật là Tiên
Là Hồng là Lạc
Người bất diêt trong lòng nước Việt
Cứ gì phải tụng muôn năm….

Sáng 5-10-2013


Anh Văn

Trần Nhương
Thứ bẩy ngày 5 tháng 10 năm 2013 10:26 PM

Bao người chen chân vào Mai Dịch
Bao người dựng tượng, xây bia
Bao người vênh vang hãnh tiến
Nhìn đồng bào ném con mắt thia lia

Người sừng sững Điên Biên
Người "Thần tốc" suốt chiều dài đất nước
Người can ngăn bo xít Tây Nguyên
Người khiêm nhường không coi mình vĩ đại
Người toàn cầu mà vẫn gốc Quê Choa

Sinh ra từ Lệ Thủy
Người bây giờ ở quê
Cả khi chết Người vẫn luôn minh triết
Anh Văn ơi đất Mẹ đón Anh về...

Tối 5-10-2013


Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013

60 NĂM KHÚC TRÁNG CA ANH HÙNG



                                                                                               Lương Phúc
“Đất nước quê anh, lá thắm rừng xanh, cam Mường Pồn quanh mộ anh xây đỏ…” – vâng, gần mười năm sau chiến thắng Điện Biên, 12/1963 – bài hát “Bế Văn Đàn sống mãi” đã đi vào lòng người như khắc nhớ một tấm gương hy sinh anh dũng của người anh hùng “lấy thân mình làm giá súng”.
60 năm – một lục thập hoa giáp, theo như các cụ xưa dạy là một đời người, vì qua tuổi đó tử vi lặp lại, sống thêm bao nhiêu là lộc giời. 60 năm một trận đánh then chốt nhưng với quy mô vừa phải ẩn mình trong một chiến dịch vĩ đại – Điện Biên Phủ chưa phải ai cũng nhớ, trừ ra chính những nhân chứng tham dự nó. Hơn chục năm nữa, khi những nhân vật đã về hết cõi vĩnh hằng, ai là người còn nhớ đến họ, nhớ về trận đánh đó – Mường Pồn, nhớ về liệt sĩ Bế Văn Đàn.
Mường Pồn chỉ là trận đánh bảo vệ cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Đầu tháng 12/1953, bị o ép mạnh quân địch ở Lai Châu tháo chạy về Điện Biên Phủ khi đó đang hình thành “con nhím” tập đoàn cứ điểm. Xung quanh Điện Biên, quân ta cũng đang hình thành thế bao vây chuẩn bị cho giờ G, nếu địch ở Lai Châu tràn qua sẽ lộ hết ý đồ quân sự. Bộ chỉ huy chiến dịch điều e174 Cao Bắc Lạng (e174) mà chủ công là tiểu đoàn 251 (e251) vận động tới chặn lại, quyết chiến điểm đã xảy ra ở Mường Pồn.
HAI LẦN KỶ NIỆM CHIẾN THẮNG MƯỜNG PỒN
Xin bắt đầu câu chuyện từ 5 năm trước. Ngày 13/12/2008 tôi có may mắn được dự kỷ niệm 55 năm chiến thắng Mường Pồn và cũng là 55 năm ngày giỗ anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn. Hôm đó có 9 đồng đội cùng đại đội 674 tiểu đoàn 251, trung đoàn 174 Cao Bắc Lạng với AHLS Bế Văn Đàn như Thiếu tướng Dũng Chi, Thiếu tướng Dũng Hà, các anh Đỗ Ca Sơn, Hoàng Tiêu Sơn, Lâm Viết Hữu, Nguyễn Ngọc Tân… và một số chiến sĩ 174 thế hệ sau.

Ngồi: 3-đ/c Dũng Chi, đ/c Tiêu Sơn, đ/c Viết Hữu. Đứng: 4-đ/c Ca Sơn, đ/c Dũng Hà
  Có một câu chuyện vui mà nhờ anh linh của liệt sĩ Bế Văn Đàn nên tôi thoát hiểm. Với cương vị là Bạn chiến đấu với e174 và làm phóng viên ảnh, tôi đến hiệu ảnh Hoàng Tuyết đối diện Daenwoo để rửa cho các đồng đội kịp nhận trước khi ra về. Khi quay lại lấy ảnh, dựng xe máy trên hè vào nhà, chừng ½ phút nhận xong quay ra đã thấy công an phường Ngọc Khánh đang định nhấc lên ô tô cùng với nhiều xe của những người khác. Thì ra hôm đó đúng ngày cao điểm công an ra quân lập lại trật tự vỉa hè theo nghị định 36CP. Rất may lúc đó tôi mặc quân phục và ảnh đã lấy xong, tôi bèn trình bày với đội trưởng tác vụ rằng mình đang làm nhiệm vụ thiêng liêng cho giỗ trận Mường Pồn và liệt sĩ Bế Văn Đàn, minh chứng là bộ ảnh có cả băng rôn “Kỷ niệm chiến thắng Mường Pồn lần thứ 55 (13/12/1953 – 13/12/2008)” với hàng chục cán bộ quân đội CCB bên bàn thờ khói hương nghi ngút. Đồng chí đội trưởng thông cảm nhưng bảo phải đợi giải quyết hết các xe khác về đồn đã để tránh bị hiểu là không công bằng. Anh linh liệt sĩ đã phù hộ nên chỉ 5 phút sau tôi lại có thể về với hội bạn chiến đấu e174. Kể lại chuyện vừa xảy ra với các anh ở e174, ai cũng bật cười.

L.Phúc và g.đ đ/c Cao Phong
 Năm năm sau 14/12/2013, tôi lại có dịp dự kỷ niệm 60 năm chiến thắng Mường Pồn và giỗ anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn, vẫn tại địa điểm cũ, ở ngõ Thông Phong phường Quốc Tử Giám nhà của Trung tá Nguyễn Cao Phong – một CCB của Trung đoàn 174A1 thế hệ sau của e174 chiến đấu trên chiến trường Miền Đông Nam Bộ. 5 năm qua rồi, thế hệ xưa toàn những U90, ai còn ai mất, gặp lại nhau đơn giản, gọn nhẹ, tay bắt mặt mừng, nhớ về người đồng đội liệt sĩ và những kỷ niệm quá khứ oai hùng thuở ấy.

Anh hùng La Văn Cầu(5), CCB Nguyễn Trung, e trưởng 174 Đặng Văn Việt
 Đặc biệt hơn lần này có Trung tá Đặng Văn Việt, “con hùm xám đường số 4” – danh hiệu do quân viễn chinh Pháp suy tôn, là Trung đoàn trưởng đầu tiên (khi đó đồng chí Chu Huy Mân làm Chính ủy) của e174. Ông Việt vừa tròn tuổi 95 mấy ngày trước nhưng còn rất khỏe và minh mẫn, vẫn đi xe máy và viết nhiều hồi ký…, cho đến hôm nay e174 đã tới đời Trung đoàn trưởng thứ 32. Còn có Anh hùng La Văn Cầu, người đã từng chặt cánh tay bị thương để tiếp tục chiến đấu phá lô cốt trong trận Đông Khê, chiến dịch Biên giới 9/1950 mà sách tập đọc cấp 1 những năm 50, 60 thế kỷ trước có bài vè “Anh La Văn Cầu, anh Cầu ra trận…”. Song có điều ít ai biết là Đại tá La Văn Cầu là một trong 7 người được vinh danh là Anh Hùng Toàn Quốc tại Đại hội thi đua năm 1952 do chính tay Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định. Bảy người lúc đó là: Liệt sĩ Cù Chính Lan, La Văn Cầu, Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn Thị Chiên, Hoành Hanh, Trần Đại Nghĩa, Ngô Gia Khảm, hiện nay chỉ có ông La Văn Cầu và bà Nguyễn Thị Chiên còn sống.
Tôi cũng được gặp và phỏng vấn bà Lê Thị Điền trong trận Mường Pồn là y tá Đội điều trị của f316 - đơn vị phối thuộc phục vụ e174 đã trực tiếp tham gia cứu chữa cho đồng chí đại đội trưởng Vũ Thế Châu và nhiều thương binh của đại đội 674. Bà cho biết anh Pù đã mất cách đây 9 năm. Chồng bà Điền sau này là đồng chí Nguyễn Trọng Quỳnh, trong trận Mường Pồn là Chính trị viên kiêm bí thư chi bộ đại đội 674 – người đã ôm trong tay mình liệt sĩ Bế Văn Đàn lúc hy sinh.
KHÚC TRÁNG CA ANH HÙNG
Ông Nguyễn Trọng Quỳnh (nay đã mất), từng kể lại thời khắc chiến đấu oanh liệt của liệt sĩ Bế Văn Đàn như sau:
Tôi nhìn thấy thân hình Đàn nằm lộ hẳn trên công sự giữa tầm đạn. Tôi vô cùng lo lắng cho tính mạng của Đàn. Lúc này hàng ngũ địch đang lộn xộn, chúng bắn trả rất dữ dội hỏa điểm của Pù và Đàn bị lộ. Từng loạt đại liên bắn xối xả, nhưng khẩu trung liên trên lưng Đàn vẫn ròn rã nhả đạn. Anh ngước mắt nhìn lên nói với Pù là xạ thủ trung liên đang kề súng trên vai mình: “Pù bắn mạnh vào!”. Bỗng một viên đạn của địch bắn trúng loa chắn lửa làm khẩu trung liên văng xuống, Đàn lại lôi súng kê lên lưng. Ngay lúc ấy, một viên đạn khác xuyên qua vai Đàn. Anh kêu lên rồi từ từ gục xuống, khẩu trung liên ngã về một bên, máu trên vai Đàn chảy ướt đẫm một bên áo. “Đàn, Đàn ơi, có việc gì không?”. Pù kéo Đàn xuống, thì thừa cơ bọn địch lại gào lên “A la xô”. Nghe tiếng hò hét của bọn xâm lược, Đàn lại nhoai lên, mím chặt môi, lấy hết sức cố nhỏm người lên nói: “Kê lên Pù! Kê lên, quyết chiến đấu tiêu diệt chúng, Đảng kêu gọi chúng ta”.
Bà Lê Thị Điền kể lại trận Mường Pồn
 Trên lưng Đàn, tiếng trung liên lại nổ rền rền, Pù vừa bắn vừa khóc. Bọn giặc đứa chết, đứa bị thương, rồi bỏ chạy tán loạn. Mặt Đàn tái dần, lưng máu đầm đìa. Lúc đó là 12 giờ 30 phút, tôi nhẩy lên cùng Pù vực Đàn xuống ven suối, mắt Đàn từ từ mở rồi nói nhỏ dần: “Giá tôi không mắc khuyết điểm ấy, thì tôi cũng được vào Đảng rồi đấy, Bí thư nhỉ?”. Nghe Đàn nói, tôi run cả người. Tôi ôm chặt Đàn vào lòng rồi gào thét lên để Đàn nghe rõ: “Đồng chí Đàn yêu quý! Tôi thay mặt Đảng tuyên bố kết nạp đồng chí Bế Văn Đàn vào Đảng Lao động Việt Nam từ giờ phút này. Đồng chí Đàn hãy nhận lấy danh hiệu vinh quang của Đảng!”. Đàn dùng hết hơi sức ôm chặt lấy tôi và nói: “Tôi! Tôi được… kết… nạp … Đảng!”. Trên môi anh nở một nụ cười rồi ngả lưng thiếp đi, ngực và một bên áo của tôi ướt đẫm máu người anh hùng Mường Pồn.
 ...
Đáng lẽ kết nạp Đàn trước ngày đi chiến dịch. Tất cả các thủ tục, nguyên tắc giấy tờ đã làm xong, nhưng chi bộ đã nhất trí để sẽ kết nạp trong chiến đấu, vì lẽ Đàn quá nhớ mẹ đã bỏ về nhà thăm và biếu mẹ tấm áo bông trước lúc lên đường. Lễ kết nạp tại trận địa không có cờ Đảng  và bàn thờ Tổ quốc, nhưng thật thiêng liêng. Với tất cả đồng đội của Liệt sĩ Bế Văn Đàn được chứng kiến, lễ kết nạp đó như một hiệu kèn xung trận cổ vũ mọi người bước vào cuộc chiến đấu mới.
Vĩ thanh
Hôm nay, nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Mường Pồn và ngày mất của Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn, kỷ niệm 69 năm ngày thành lập QĐNDVN 22/12/1944 – 22/12/2013, tôi một chiến sĩ thế hệ đàn em của Anh, xin viết lại những dòng này thay một nén nhang tưởng nhớ Anh và bao liệt sĩ đã hy sinh, cũng là có dịp nhắc lại những trận chiến oanh liệt của quân đội nhân dân ta! Đây cũng là quà tặng cho các CCB họ G. Cuối cùng chúc sức khỏe tất cả họ G cùng gia đình.

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2013

Những bức ảnh màu đầu tiên về Hà Nội


http://doisong.vnexpress.net/tin-tuc/nhip-song/nhung-buc-anh-mau-dau-tien-ve-ha-noi-2923472.html
Thứ bảy, 14/12/2013 12:00 GMT+7

Hồ Gươm, Văn Miếu thuở còn nguyên sơ với những con đường đất hay các cô gái trong chiếc áo yếm hiện lên sống động qua tác phẩm của nhiếp ảnh gia người Pháp Leon Busy.
18.jpg
Nhiếp ảnh gia Leon Busy được Viện Bảo tàng Albert Kahn (Pháp) cử sang Việt Nam chụp lại cuộc sống của người dân Bắc Kỳ từ năm 1914 tới năm 1917. 60 ảnh trong triển lãm này chọn lọc từ 1.500 bức do Leon Busy thực hiện. Đây là một bức ảnh về hồ Gươm.
19.jpg
Qua các bức ảnh, người xem có thể thấy được cảnh sinh hoạt, lao động đời thường hay như cách phân tầng xã hội thời bấy giờ. Ảnh cũng thể hiện đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người Hà Nội xưa thấm nhuần Lão giáo, như quan niệm về Đạo Tam phủ hay thờ cúng các linh vật hoặc tư tưởng cấm sát sinh của đạo Phật. Ảnh chụp toàn cảnh Văn Miếu.
hck-7554-1386989515.jpg
Ảnh lăng mộ Hoàng Cao Khải mà ngày nay chỉ còn là phế tích.
5_1386948664.jpg
Bức ảnh về lò giấy ở làng Bưởi. Nghề làm giấy nổi tiếng ở làng Bưởi (làng Yên Thái xưa) nay đã không còn.
4_1386948664.jpg
Có nhiều nhiếp ảnh gia để lại những bức ảnh giá trị về Hà Nội xưa, song những bức ảnh chưa từng công bố này mang đến một điều đặc biệt. Nó là những bức ảnh màu đầu tiên về đất Thăng Long xưa. Leon Busy được đánh giá rất "chịu chơi" vì áp dụng kỹ thuật này trong khi nó mới ra đời năm 1903. Trong ảnh là phố Hàng Thiếc.
16.jpg
Một góc chợ cuối làng ở vùng ven Hà Nội.
2_1386948664.jpg
Phố đèn lồng rực rỡ sắc màu qua góc nhìn của Leon Busy. Một mặt hàng nhưng do nhiều nghệ nhân khác nhau làm giúp người mua thoải mái lựa chọn.
3_1386948664.jpg
Bức ảnh "Móng tay của nhà nho" thể hiện rõ quan niệm thời xưa rằng người có chữ không được làm công việc chân tay.
7_1386948664.jpg
Bên cạnh đó, những bức ảnh màu đầu tiên còn thể hiện rõ phân biệt đẳng cấp xưa. Trong ảnh một người phụ nữ trung lưu đang nấu cơm.
9_1386948664.jpg
Tóc vấn, quần áo đắt tiền, có người đứng hầu phía sau cửa... là hình ảnh về những phụ nữ thuộc tầng lớp khá giả xưa. Trong ảnh ba phụ nữ này đang chơi bài.
8_1386948664.jpg
Leon Busy cũng sắp đặt một số góc cảnh để chụp ảnh. Hai cô gái ngồi bên bể nước vận trang phục cổ truyền là yếm trắng, quần đen, thắt lưng sáng màu, nón ba tầm.
13.jpg
Lão nông ngồi giữa sân phơi thóc thể hiện quan niệm về sự sung túc trong đời sống nông nghiệp thời xưa. Sân phơi thể hiện tham vọng của chủ nhà, sân càng rộng nhà càng nhiều thóc.
14.jpg
Hai thôn nữ vừa đi hái rau muống, họ mặc áo tứ thân, yếm trắng, đầu chít khăn mỏ quạ. 
17.jpg
Đô vật bái thần làng trước trận đấu (làng Xa La, Hà Đông). Triển lãm ảnh "Hà Nội, sắc màu 1914-1917" diễn ra từ ngày 9/12/2013 đến ngày 4/1/2014. 
Phan Dương

Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013

CHUYỆN MỘT BÀI CA DAO CỔ



             Hôm nay đã 30/11, chúng ta vốn dân Toán G, LP sưu tầm bài này để các bạn xem thử dân văn vì ngứa nghề Toán đã phải "Dò tìm cho đến ngọn nguồn, mạch sông" - Kiều, Nguyễn Du - như thế nào để tính tiền qua bài ca dao cổ. Bài viết dưới đây của tác giả  PHAN VĂN CHO Khóa 4 ĐH Sư phạm Huế.

"Đi chợ tính tiền" là một bài ca dao lục bát. Bài đã được in làm Bài Học Thuộc Lòng cho học sinh lớp "sơ đẳng" (tức lớp 3) trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư năm 1948. Bài thơ kể chuyện một người phụ nữ đi chợ về, phải trình bày minh bạch, rõ ràng việc chi tiêu với chồng.

Ngày xưa khi học bài này thầy giáo chỉ nêu đại ý như rứa, đồng thời nêu bật tính đảm đang, khéo vén của người phụ nữ xưa... sau đó yêu cầu học sinh học thuộc. Thầy không giảng về bài toán ẩn trong bài thơ, có lẽ vì thời thế đã khác (Khoảng năm 1958, chưa được vào trường công lập, người viết học với Ông giáo...  ở khoảng giữa cầu An Cựu và lăng Vạn Vạn, không biết có phải là thân sinh của nhà văn Hải Triều không?) đồng tiền cũng đã đổi thay, hoặc giải bài toán chắc chi những học trò nhỏ hiểu được.
            Đã hơn năm mươi năm, bây giờ người học trò xưa đang ngồi ôm tóc trắng... một ngày mưa ngồi buồn chợt nhớ thầy đồ nơi xóm cũ ngày xưa chừ không còn, nhưng bài thơ vẫn còn đọng mãi trong đầu của bài Học thuộc lòng thửa ấy. Bèn tìm giấy giải thử.
Ngay câu thơ đầu tiên đã gặp ngay vấn nạn: "Một quan tiền tốt mang đi". Một quan là bao nhiêu? Quan là đồng tiền cổ, những người muôn năm cũ  giờ không còn, biết hỏi ai đây? Chợt nghe vang vang trong đầu một bài nhạc của nhạc sĩ Văn Phụng:
Một quan là sáu trăm đồng.
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi. (Thơ của Nguyễn Bính).
Vận dụng cả 4 phép tính cộng trừ nhân chia, đảo xuôi ngược, lên xuống... mãi vẫn không đủ 600 đồng cho một quan tiền! 
Lại phải đi tìm  trong lịch sử. Trong một ngàn năm Bắc thuộc, dân Việt không có đồng tiền riêng. Mãi đến sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, dân Việt vẫn còn dùng đến đồng tiền của phương Bắc. Đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi hoàng đế với đế hiệu Đinh Tiên Hoàng, niên hiệu Thái Bình. Năm 970 nhà vua đã cho đúc những đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo. Đây chính là những đồng tiền đầu tiên của người Việt. Từ đó tiếp đến những triều đại sau đều theo.


Đơn vị để tính tiền xưa gồm có : quan, tiền , đồng. Mỗi quan có giá trị là 10 tiền, mỗi tiền bằng bao nhiêu đồng tùy theo quy định của mỗi thời đại. Theo sử sách giá trị đồng tiền các thời đại như sau:
1/ Năm 1225, vua Trần Thái Tông định phép dùng tiền: 1 quan bằng 10 tiền, 1 tiền bằng 70 đồng.
2/ Năm 1428 vua Lê Thái Tổ cho đúc tiền Thuận Thiên: 1 quan bằng 10 tiền, 1 tiền bằng 50 đồng.
3/ Năm 1439, vua Lê Thái Tông quy định: 1 quan bằng 10 tiền, 1 tiền bằng 60 đồng.
            Như vậy 1 quan= 10 tiền = 600 đồng.
Từ đó các triều đại về sau, mỗi khi đúc một loại tiền mới đều theo tỷ lệ này, cho đến cuối triều Nguyễn năm 1945. Chỉ có tên đồng tiền là thay đổi theo tên hiệu.
Năm 1905, chính quyền bảo hộ Bắc kỳ cho phát hành loại tiền đúc bằng hợp kim kẽm. Loại tiền này mặt trước in chữ Pháp, mặt sau ghi chữ Hán, có giá trị tương đương các loại tiền đồng như Gia Long Thông Bảo, Minh Mệnh Thông Bảo, Thiệu Trị Thông Bảo và Tự Đức Thông Bảo.
Trong những đời vua sau của nhà Nguyễn còn có thêm hai đồng tiền khác là Khải Định Thông Bảo và Bảo Đại Thông Bảo, hai loại tiền này không đúc như những đồng tiền xưa mà được dập bằng máy dập nhập từ nước Pháp.
Đến đây chắc chắn là bài toán ẩn bên trong bài ca dao đã giải được. Ghi lại như sau, bên phải là các phép tính đã giải.
ĐI CHỢ TÍNH TIỀN
Một quan tiền tốt mang đi,                                                   =          600   
Nàng mua những gì chàng tính chẳng ra.
Thoạt tiên mua ba tiền gà,                                         3x60   =          180
Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu.                    60+30+3   =            93
Trở lại mua sáu đồng cau,                                                    =              6
Tiền rưỡi miếng thịt, giá rau mười đồng.           (1,5x60)+10 =           100
Có gì mà tính chẳng thông?
Tiền rưỡi gạo tẻ, sáu đồng chè tươi.                 60+30+6     =             96
Ba mươi đồng rượu chàng ơi,                                              =             30
Ba mươi đồng mật, hai mươi đồng vàng.                 30+20   =            50 
Hai chén nước mắm rõ ràng,
Hai bảy mười bốn, kẻo chàng hồ nghi.                      2x7     =             14
Hăm mốt (21) đồng bột nấu chè,                                         =             21
Mười đồng nải chuối, chẵn thì một quan.                              =            10
                                                                            CỘNG   =           600


Trong sách QVGKT, bên dưới bài học thuộc lòng này có 3 từ giải nghĩa, ghi nguyên văn như sau:
"GIẢI NGHĨA:
  - Tiền tốt       = tiền tiêu được.
  - Vàng          = đồ làm bằng giấy cúng rồi đốt đi.
  - Hồ nghi      = ngờ vực, không biết rõ".

Những giải nghĩa này chỉ để giải thích cho lớp học trò tóc còn để chỏm, dễ hiểu,dễ nhớ. Đi chợ tất phải đem theo tiền, tiền phải có giá trị trong mua bán... là chuyện đương nhiên. Nhưng sao gọi là tiền tốt? Một bài ca dao được lưu truyền, được in trong sách giáo khoa từ lúc ra đời (Bản in đầu tiên năm 1927) đến lúc cải tiến thay đổi, không lẽ vì bí vần mà viết vụng thế sao! Thế là người viết phải đi tìm tiếp.
            Có một giai thoại trong văn học về Bà Chúa thơ Nôm.Chuyện kể rằng Hồ Xuân Hương thiếu tiền bèn hỏi mượn của Chiêu Hổ 5 quan để tiêu tạm. Chiêu Hổ gởi tiền đến, đếm hoài vẫn chỉ thấy có  3 quan. Nữ sĩ bèn làm bài thơ trách người cho mượn tiền:
Sao nói rằng năm chỉ có ba.
            Trách người quân tử hẹn sai ra.
            Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt.
            Nhớ hái cho xin nắm lá đa.
Chiêu Hổ họa lại:
Rằng gián thì năm, quý có ba.
Bởi người thục nữ tính không ra.
Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt.
Cho cả cành đa lẫn củ đa.
Trong bài họa của Chiêu Hổ có chữ gián và quý. Đây là cơ sở dẫn người viết đi tìm tiếp. Đã "có công tất ... chồng không phụ", kết quả đã tìm được:
Khoảng thế kỷ 18, dưới triều vua Minh Mạng có hai loại tiền lưu hành. Đó là tiền quý và tiền gián, tỷ lệ như sau: 1quan quý = 600đồng.   1 quan gián chỉ bằng 360 đồng.
            Khi hỏi mượn tiền, Hồ Xuân Hương chỉ nói mượn 5 quan, không nói là quan gì. Gặp lúc Chiêu Hổ chắc cũng đang thiếu nên chỉ cho mượn số tiền thấp xuống, nhưng vẫn đủ 5 quan:
                        Quan quý :      3x600  =  1800 đồng
                                           1800:360 =   5 quan gián
      Giá trị của các loại tiền xưa như thế nào? Đây là những số liệu về lương tiền dưới triều vua Minh Mạng:
      - Quan Nhất Phẩm lãnh mỗi năm 400 quan, 300 phương gạo, 70 quan tiền Xuân Phục, tức tiền áo quần.
      - Quan Chánh ngũ phẩm, hàng tri phủ mỗi năm lương 40 quan, 43 phương gạo, 9 quan tiền Xuân Phục.
      - Lính, thơ lại, phục dịch... lương mỗi tháng 1quan tiền, 1 phương gạo.
           Đồng quan ngày xưa nó to thế. Chẳng trách người ta bỏ... quan ra để mua phẩm hàm ,chức tước... để được làm quan!  Chẳng trách người phụ nữ "thời xưa" (tên khác của bài thơ Trăng sáng vườn chè) quên cả thanh xuân, gác tạm những ẩn ức, dồn nén để một ngày chồng vinh qui về làng... cùng nhau trải trọn trong một đêm trăng!
Qua những số liệu vừa tìm được, ta có thể thấy rõ bài ca dao "Đi chợ tính tiền" xuất hiện sớm nhất phải từ thời Minh Mạng. Bởi từ lúc này mới có "Một quan tiền  TỐT"mang đi. Tiền tốt chính là tiền quý, phân biệt với tiền gián có giá trị thấp hơn. Cũng thấy được,người phụ nữ trong một buổi chợ quê đã tiêu số tiền bằng lương tháng một người lính. Nhà nàng chắc phải có chuyện quan hôn, kỵ giỗ chi đây!
Thật thú vị, để giải bài toán ẩn bên trong bài ca dao, đã phải đi loanh quanh, lòng vòng. Gặp những bài thơ hay, giai thoại đẹp, biết thêm vài điều về lịch sử... Nếu không có Internet chắc gì người viết đã giải được bài toán ẩn bên trong bài ca dao cổ? Chỉ nghĩ đến kho sách phải lục tìm, những thư viện phải đi đến... đã thấy chồn chân chẳng muốn trèo !
                                                                                                    PVC (Pleiku 22-8-2011)



Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

CHÚC MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VN

Ngày 20-11
Kính chúc ba thầy chủ nhiệm lớp G: 
Nguyễn Đức DÂN, Hàn Liên HẢI và Hoàng Mai ĐỊNH
mạnh khỏe sống lâu.


Thầy DÂN - Năm 2008 - Hà nội 



 Thầy HẢI - năm 2012 - Đền Sái (Đông Anh)


Thầy ĐỊNH - năm 2012 - Nam Hồng (Đông Anh)

Chúc mừng các bạn trong lớp G Xuân Đỉnh đã là nhà giáo và đang làm nhiệm vụ cao cả: trồng người.

DANH SÁCH NHÀ GIÁO của Lớp G  XUÂN  ĐỈNH
File đầy đủ địa chỉ : Danh sach XD03a.xls
STT
Họ và tên
Trường / Cơ sở đào tạo
1

PGS. Nguyễn Bá Ân

Viện Vật lý –
Viện Hàn lâm KH&CN
2
Nguyễn Quốc Bảo

Cao đẳng Sư phạm HN

3
GS. Đào Trần Cao

Viện KH Vật liệu –
Viện Hàn lâm KH&CN

4
TS. Nguyễn Công Điều

- Đại học Thăng Long
- Viện Hàn lâm KH&CN

5

Phạm Thuý Hạnh

- Trường THCS Kim Chung - Đông Anh
- Trường THCS Thống Nhất – Ba Đình
 6
Đỗ Bá Khôi


Trường PTTH Hà Nội - Amxtecđam
(Phó Hiệu trưởng)

7

Nguyễn Huy Lâm

Trường THCS Ái Mộ - Gia Lâm
8

TS. Vũ Như Lân

- Viện Hàn lâm KHCN QG
- Đại học Thăng Long

9
PGS. Nguyễn Vũ Lương

Trường PTTH chuyên (Hiệu trưởng) -
ĐH Khoa học TN – ĐHQG HN

10

Nguyễn Thị Ngọc

Trường PTTH Bình Xuyên – Vĩnh Phú
11
PGS. Trần Hồng Nhung

Viện Vật lý - Viện Hàn lâm KH&CN

12
Mai Đình Nội

Trường Đại học Mỏ - Địa chất

13
TS. Phan Huy Phú

- Đại học Thăng Long (Hiệu trưởng)
- Đại học Sư phạm HN

14

Trần Đạt Phụng

Trường THPT Văn Giang – Hưng Yên
15

Lương Văn Phúc


Đại học Bách Khoa HN

16

Phạm Hữu Quỳ

Trường PT Nguyễn Đình Chiểu HN
(Hiệu trưởng)
17

PGS. Nguyễn Đình Tài

- Viện NC Quản lý Kinh tế TW
- Đại học Thăng Long
18

Bùi Minh Thắng

Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Thông tin – Nha Trang
19

Nguyễn Hữu Thông

- Trường THCS Uy Nỗ - Đông Anh
- Trường THCS Thụy Lâm - Đông Anh
20

Nguyễn Xuân Triểu

Khoa Toán - ĐH Khoa học TN –
ĐHQG HN
21

Nguyễn Hữu Tuyên


Trường Thương nghiệp TW

22

Lê Vĩnh Thọ


Đại học QL&CN Hữu Nghị
(Phó Hiệu trưởng)

23

TS. Hoàng Minh Chương

Khoa Toán - ĐH Tổng hợp HN


(BBT - Hà Nội - 20/11/2013)