Hiển thị các bài đăng có nhãn THẦY NG. ĐỨC DÂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn THẦY NG. ĐỨC DÂN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 11, 2016

Thầy DÂN cho sách mới 11-2016






Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Ưu tú NGUYỄN ĐỨC DÂN sinh ngày 23 tháng 6 năm 1936 tại Hà Nội nhưng nguyên quán của Giáo sư là làng Vị Hạ, xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Thân phụ của Giáo sư là cụ Nguyễn Đức Chung, nguyên Trưởng ty kinh tế Hà Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Nga - cháu ngoại của cụ Tam Nguyên Yên Đổ - nhà thơ Nguyễn Khuyến. 

 


Vào đại học năm 1954, hè năm 1957, Thầy Nguyễn Đức Dân tốt nghiệp cử nhân ban Toán (khoa Toán – Lý, ĐHSP Hà Nội), tháng 8/1957 thầy được nhận quyết định về dạy Toán tại trường Bưởi (nay là Trường THPT chuyên Chu Văn An – Hà Nội). Từ đó Thầy theo đuổi và tận tuỵ với sự nghiệp “trồng người”. Từ năm 1963 đến năm 1966, Thầy được phân công phụ trách lớp “Bồi dưỡng Toán của Hà Nội” thi học sinh giỏi toàn miền Bắc. Nhiều học trò do Thầy bồi dưỡng đã trở thành các nhà toán học, vật lý có tiếng như: GS.TS. Phan Quốc Khánh, GS.TS. Đào Văn Lượng, GS.TS Nguyễn Bá Ân

Năm 1970, Thầy bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học hình thức (formal linguistics) với đề tài “Minh họa câu đơn tiếng Việt bằng ngữ pháp phạm trù” tại Warszawa, Ba Lan. Đây là bước chuyển hướng quan trọng từ Toán học sang Ngôn ngữ học trong sự nghiệp giảng dạy và nghiên cứu của Thầy.


Sau khi từ Ba Lan về, Thầy giảng dạy Ngôn ngữ học tại khoa Ngữ Văn, Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG Hà Nội).
Năm học 1979-1980, Thầy làm giáo sư thỉnh giảng môn “Tiếng Việt và Văn minh Việt Nam” tại ĐH Paris 7 (Cộng hòa Pháp).
 
Từ năm 1986, Thầy chuyển vào Nam công tác tại Trường ĐH Tổng hợp TP.HCM. Trong thời gian công tác tại đây, Thầy được Nhà nước phong học hàm Phó Giáo sư năm 1991, học hàm Giáo sư năm 1996. Thầy đã liên tục là Tổ trưởng tổ bộ môn Ngôn ngữ, Khoa Ngữ văn-Báo chí, là Phó chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Việt Nam. Thầy nghỉ hưu vào năm 2002.

Tháng 6 năm 2016, Nxb Trẻ TP Hồ Chí Minh đã in và phát hành cuốn sách “Lô gích – ngữ nghĩa từ hư tiếng Việt” của GS. TS Nguyễn Đức Dân



Cuốn sách này được viết dựa vào các bài viết đã đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ và các công trình khác từ 40 năm qua trên cơ sở có chỉnh lý, bổ sung và viết cho liền mạch lại từng vấn đề theo một định hướng nhất định. Sách khổ 14 cm x20cm, dày 384 trang có 4 chương và các phần: tài liệu tham khảo, dẫn liệu ngôn ngữ và một phụ lục ngắn.

Đầu tháng 11/2016 Người Thầy kính yêu 80 tuổi ra Hà Nội, mang sách mới cho các học trò cũ “Lớp toán đặc biệt” 8-9-10 G Trường PT cấp 3 Xuân Đỉnh mà Thầy là Giáo viên Chủ nhiệm đầu tiên (Lớp 8G - trước khi Thầy đi nghiên cứu tiến sĩ tại Ba Lan 9-1966).








Xin có vài câu nôm na kính tặng Thầy:

Thày mang cho sách mới tươi,
Tám mươi viết khỏe toàn lời ngọc châu,
Lớp G nhớ mãi ơn sâu,
Chúc Thầy mạnh khỏe sống lâu dài dài. ./.

 (Mỹ đình - Hà nội - 10/11/2016)


 (Hà nội --- 16-5-2013)

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015

Gặp Thầy DÂN 2015

(BBT - 17/10/2015 - thứ bảy) - Hàng năm cứ độ đầu tháng 10 - 11, Thầy Nguyễn Đức Dân lại ra Hà Nội dạy các lớp trên đại học cho Đại học KHXHNV (Đại học QG HN) hoặc có việc gia đình quê hương. Năm nay bạn Lê Vĩnh Thọ đã báo là ngày 7/10/2015 Thầy từ Sài Gòn bay ra. 

Ban Liên lạc Lớp G đã họp bàn tại nhà lớp trưởng Nguyễn Thị Ngọc về việc đón tiếp Thầy. Bạn Phạm Hữu Quỳ đề xuất mời Thầy Hàn Liên Hải và Thầy Hoàng Mai Định cùng dự cuộc gặp mặt. Bạn Lê Vĩnh Thọ thông báo sẽ mời Thầy Tuấn - chủ nhiệm lớp toán Yên Hòa - đến buổi giao lưu đầy ý nghĩa này. Như vậy đây sẽ là cuộc gặp mặt lịch sử khi mà có 4 thầy chủ nhiệm của 2 lớp toán đặc biệt (lớp Xuân Đỉnh và lớp Yên Hòa) lứa đầu tiên - khóa 1966-1968 - của thành phố Hà nội. Và buổi gặp gỡ đã diễn ra vui vẻ đầm ấm với đông đủ các bạn học trò "chuyên toán" ngày nào cùng bốn Thầy giáo.  

Sau cuộc gặp mặt, các bạn Lương Văn Phúc và Nguyễn Công Điều đã tích cực đăng ảnh lên các trang FB của mình. Xin cảm ơn các tác giả trang Phây và xin phép được trích lời văn và hình ảnh từ những trang FB của 2 cựu học sinh lớp G Xuân Đỉnh về buổi gặp mặt Thầy trò cảm động sau gần nửa thế kỷ gắn bó:


---------------------------------  



NHỮNG NGƯỜI THÀY CỦA TÔI 


49 năm rồi - những người thày thuở ấy, 

Vẫn hân hoan đến gặp mặt học trò...

Tóc bạc, da mồi, tay chống gậy,

Lại bồi hồi khi kể chuyện ngày xưa... 

                                                                                             Lg.Phúc - 14/10/2015




GẶP MẶT LỚP TOÁN ĐẶC BIỆT XUÂN ĐỈNH 

(FB của Lương Văn Phúc)

Chiều tối ngày 14/10/2015, lớp Toán G Xuân Đỉnh 1966-1968 đã họp mặt trong tiết cuối Thu tại nhà hàng Cảnh Hồ 171 đường Trường Chinh Hà Nội.

Buổi gặp mặt vinh dự lần đầu tiên có được cả 3 thày Chủ nhiệm lớp:  thày Dân (2/1966-8/1966), thày Hải (9/1966-1/1967), thày Định (2/1967-6/1968) và thày Tuấn – chủ nhiệm lớp toán Yên Hòa kết nghĩa. 

Tham gia gặp mặt còn có 23 thành viên của lớp đang sinh sống tại nhiều quận, huyện ở Hà Nội.

Thay mặt các bạn, lớp trưởng Nguyễn Thị Ngọc đã mừng thọ và chúc sức khỏe các thày nhân dịp Ngày Quốc tế hiến chương các Nhà giáo sắp tới. 

Buổi gặp mặt đã diễn ra vui vẻ, nhớ về những kỷ niệm xưa... và cùng hướng tới việc chuẩn bị kỷ niệm 50 năm ngày thành lập lớp Toán Đặc biệt Xuân Đỉnh 2/1966 – 2/2016.










(Nguyễn Huy Lâm - đứng đầu bên trái- lâu rồi mới gặp các bạn và Thầy giáo)



(Lớp trưởng Nguyên Thị Ngọc bên các Thầy)


(Trưởng ban tổ chức Phạm Hữu Quỳ phát biểu và chúc mừng các Thầy chủ nhiệm)


(Doanh nhân Nguyễn Khắc Sơn vui vẻ bên những bạn bè thuở cấp 3 xa xưa)






(Cựu Đại tá Lương Văn Phúc chào Thầy DÂN, trong khi Lê Vĩnh Thọ gửi Thầy Hải và Thầy Tuấn những tài liệu lịch sử)


(Hiệu trưởng ĐH Thăng Long Phan Huy Phú thăm hỏi Thầy Hàn Liên Hải)


(Bạn Khắc Sơn cố gắng từ Sài Đồng - quận Long Biên sang gặp các Thầy)


(Cựu giảng viên ĐH Mỏ Địa chất Mai Đình Nội mắc việc bận đến sau, nên không có mặt ở ảnh tập thể bên trên)








(Nguyễn Hữu Thông và Đỗ Xuân Thắng - bên phải sang-  vượt đường xa từ Đông Anh sang góp vui cùng bạn bè và gặp mặt Thầy giáo)









(Tổ 2 có sĩ số 10/41 của Lớp G khi tốt nghiệp tháng 5 năm1968, nhưng hôm nay có mặt 9 bạn (trong tổng số 23 dự vui tối nay), chỉ vắng Đỗ Bá Khôi.


*  *  *

Chia tay các Thầy. Hẹn gặp lại các bạn dịp kỷ niệm "Nửa thế kỷ Lớp Toán đặc biệt Hà nội 2/2016" :





----------------------------------------------------------------------------
(BBT - 17/10/2015 - biên tập từ FB của Lương Đức Văn Phúc và Nguyễn Công Điều)







Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

Gán nhãn chất lượng cho học hiệu,học hàm (thầy Dân)




2014-1 13


Cần đào thải những giáo sư, tiến sỹ "nằm vùng"


- Lời tòa soạn: Theo dõi tranh luận xung quanh câu chuyện Trường ĐH Tôn Đức Thắng thí điểm bổ nhiệm chức vụ chuyên môn, GS. TS. Nguyễn Đức Dân gửi tới VietNamNet bài viết "Gán nhãn chất lượng cho học hiệu, học hàm".
Từ năm 2003, GS.TS. Nguyễn Đức Dân đã đề nghị “Hãy đưa những học vị, học hàm này về từng cơ sở nghiên cứu và đào tạo như đã đưa các thương hiệu về từng công ty. Khi câu chuyện trở nên “sôi nổi” vào 12 năm sau, GS.TS. Nguyễn Đức Dân đã có những ý kiến của riêng mình. Dưới đây là bài viết của ông:
Học hàm, học vị như thương hiệu công ty
Tôi muốn đề nghị một cơ chế cụ thể: Gán nhãn chất lượng cho những sản phẩm giáo dục đại học và sau đại học.
Có một thực tế không thể bác bỏ là chất lượng giữa các trường đại học rất khác nhau, chất lượng giữa các loại hình đào tạo cũng rất khác nhau. Cấp một văn bằng, một học vị là cấp một giấy xác nhận về trình độ chuyên môn, năng lực khoa học để người có văn bằng đó được quyền hành nghề theo chuyên môn ghi trong đó. Nhưng có những người tìm kiếm một văn bằng không vì mục đích chuyên môn, không vì động cơ khoa học mà vì động cơ quyền lực và địa vị.
Nguyễn Đức Dân, giáo sư
Ảnh Văn Chung
Cần đào thải những người dùng bằng cấp tiến sĩ (TS) như một thứ hàng hóa, một thư “mác” làm “cần câu cơm”, dùng để “chạy sô” kiếm tiền nhanh hơn, nhiều hơn.
Hàng hóa dùng lâu thì mòn hỏng. Hàng hóa để lâu cũng “quá đát”, hết thời hạn dùng. Con người cũng vậy. Khoa học luôn luôn phát triển với tốc độ ngày một nhanh. Nhà khoa học không chịu nghiên cứu, tự bằng lòng với những kiến thức cũ mèm tất không đáp ứng nhiệm vụ được trao. Theo đúng quy luật phát triển của xã hội, họ cần bị đào thải.
Nhiều người sau khi được học vị TS, học hàm phó giáo sư (PGS), giáo sư (GS) thì không nghiên cứu gì nữa (GS Hoàng Tụy cho rằng số này chiếm hơn 2/3). Họ trở thành những nhà khoa học “nằm vùng”, cả chục năm không hề có một công trình khoa học. Nhưng họ vẫn đường đường có “mác” TS, PGS… như ai và xã hội không biết họ là TS thực, PGS thực… hay là “tiến sĩ giấy”, “PGS giấy”.
Cần đào thải những ai, những gì không còn thích hợp, không còn đáp ứng nhiệm vụ được giao phó. Để thực hiện điều này, ngoài những biện pháp hành chính tôi đề nghị một cơ chế dùng dư luận xã hội.
Không thể có một thương hiệu sơ mi Việt Nam, giày dép Việt Nam, cà phê Việt Nam …chung chung do nhà nước bao cấp để cạnh tranh với thiên hạ mà phải là “sơ mi Việt Tiến”, “giày Biti’s”, “giày Thượng Đình”, “cà phê Trung Nguyên”…
Các công ty theo quy luật của thị trường cạnh tranh nhau để tồn tại và phát triển. Vậy thì cũng không nên có những học vị, học hàm, TS, PGS, GS chung chung.
Cái “mác” chung chung như vậy đồng nghĩa với việc Nhà nước đã bao cấp chất lượng cho những học vị, học hàm này. Nếu như Nhà nước không thể bao cấp chất lượng cho các thương hiệu thì Nhà nước cũng không thể bao cấp chất lượng cho các học hiệu.
Cần theo đúng quy luật: Hãy đưa những học vị, học hàm này về từng cơ sở nghiên cứu và đào tạo như đã đưa các thương hiệu về từng công ty. PGS, GS là của từng trường cụ thể chứ không phải là PGS, GS Việt Nam chung chung.
Nhưng cần gán nhãn chất lượng học vị, học hàm cho từng giảng viên mỗi trường đại học. Có vậy xã hội mới có điều kiện tốt hơn trong việc bình giá chất lượng và do đó sàng lọc con người và sàng lọc các trường đại học.
“Dán nhãn” như thế nào?
Thiết tưởng ở đây chúng ta nên nhắc tới châm ngôn “publish or perish” (công bố hay tàn lụi, công bố công trình khoa học hay tự đào thải) trong giới khoa học Mỹ. Chúng ta nên dùng cơ chế công bố công trình khoa học như nhiều quốc gia đã thực hiện để gán nhãn chất lượng học hiệu, học hàm: Hằng năm mỗi trường đại học phải xuất bản niên giám khoa học công bố danh sách những công trình khoa học của những giảng viên cơ hữu trường mình trong 3 năm gần nhất.
Những giảng viên là GS, PGS, TS nhất thiết phải được ghi tên vào niên giám này dù không có công trình khoa học nào. Dễ dàng xây dựng được những quy định đảm bảo cho những niên giám này là trung thực.  
Bộ GD-ĐT cũng cần có niên giám chính thức cho các GS, PGS ở từng khối ngành. Khó khăn chính trong việc xuất bản những niên giám này không phải ở chỗ không có kinh phí xuất bản. Chỉ bớt đi vài bữa “tiếp khách” hay “mừng thành tích” là mỗi trường có đủ tiền để thực hiện. Khó khăn chủ yếu là có những GS, PGS không thích công bố niên giám này, trước hết là những GS quan chức ở các ban, bộ trên trung ương.
Tôi dùng “GS quan chức” để phân biệt với “GS đứng lớp”, theo cách dùng phân biệt “kiến trúc sư hành nghề và kiến trúc sư quan chức”. Thủ tướng, một mặt nên có những quy định miễn giảm công trình khoa học cho các GS quan chức – GS VIP, mặt khác cần có sự can thiệp trực tiếp bằng văn bản buộc các trường đại học phải công bố niên giám khoa học trường mình. Có thế cơ chế gán nhãn chất lượng học hiệu, học hàm mới có cơ may thực hiện được.
Một khi thực hiện được việc gán nhãn chất lượng học hiệu cho các trường, học vị, học hàm cho cá nhân, xã hội sẽ đòi hỏi mỗi giảng viên, mỗi trường đại học phải cố gắng nâng cao chất lượng nghiên cứu và giảng dạy để xây dựng uy tín cho mình, cho trường mình tồn tại.  
2014-1 3
Xác định điều kiện trường xứng đáng
Quay trở lại với câu chuyện “GS trường”, tôi nhấn mạnh PGS, GS là của từng trường cụ thể chứ không phải là PGS, GS Việt Nam chung chung”.
Điều này đồng nghĩa với những trường ĐH đủ điều kiện có GS, PGS thì được quyền tự chủ phong. Có điều, cần ngăn chặn ngay từ đầu những hiện tượng tự phong quá đáng như đã xảy ra: Một người không đạt sau mấy lần đăng ký phong hàm PGS nay tự phong vọt lên thành GS! Vậy cần xác định điều kiện cần cho một trường xứng đáng có chức danh GS, PGS.
Thế nào là một trường ĐH đủ điều kiện có GS, PGS? Điều này liên quan đến việc phân loại, xếp hạng các trường ĐH ở Việt Nam. Cần có một tổ chức độc lập đánh giá, phân loại, xếp hạng các trường ĐH. Loại, hạng mà mỗi trường có được là điều kiện cần để một ngành, một trường có (hay không có) và có bao nhiêu GS, PGS… Điều này không thể làm được trong ngày một ngày hai, mà cần một lộ trình khoa học và nghiêm  túc.
Hệ quả thứ nhất khi có “GS trường” là: Không cần thiết tồn tại Hội đồng chức danh xét phong học hàm quốc gia nữa. Nó dần dần được thay thế bằng những hội đồng khoa học của những trường có đủ điều kiện tự phong GS, PGS.
Và hệ quả thứ hai, những GS, PGS đã về hưu và không còn tham gia đào tạo, hướng dẫn khoa học nữa, hoặc đã trở thành GS, PGS VIP, nếu vẫn muốn giữ danh hiệu này thì cần thêm chữ “nguyên” trước học hàm của mình.
2014-1 4

GS. TS Nguyễn Đức Dân, sinh 1936, cháu của cụ Nguyễn Khuyến.
Tốt nghiệp toán Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1958, về Sở Giáo dục Hà Nội, phụ trách môn Toán.
Cuối năm 1966, ông làm NCS ở Ba Lan. Vì không còn giáo sư toán học nào hướng dẫn, nên ông làm NCS về Ngôn ngữ. Về nước thầy được phân công về khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội dạy ngôn ngữ.
Năm 1996, Khoa Ngôn ngữ học được thành lập, và GS Ng. Đức Dân là người khai sinh bộ môn thống kê học ngôn ngữ ở Việt nam. Sau này GS.TS Ng. Đức Dân chuyển vào ĐH Khoa học Xã hội Nhân văn, và nghỉ hưu tại đây.

Nhà giáo Nguyễn Đức Dân

--------------------------------------------------------------------------
Nguồn: http://m.vietnamnet.vn/vn/giao-duc/263552/can-dao-thai-nhung-giao-su--tien-sy--nam-vung-.html

Thứ Hai, 5 tháng 1, 2015

GS. Ng. Đức DÂN bàn về sách giáo khoa

(BBT-05.1.2015)- Đầu năm mới 2015, BBT nhận được email của Thầy DÂN từ Sài Gòn gửi ra:

"Thân gửi các bạn lớp G,

Nhân Tết dương lịch 2015, chúc các bạn thêm một tuổi "thọ", khỏe mạnh và nhiều niềm vui. 

Tôi gửi các bạn một bài viết về tiếng Việt trong SGK hiện nay (mới đăng). Hơi chuyên môn một chút, nhưng là về tiếng Việt nên với các bạn ai cũng thấy dễ đọc.

01.01.2015

NĐDân"

Xin giới thiệu bài viết của Thầy giáo yêu quý.

Nhân dịp năm mới 2015, BBT xin chúc Thầy Cô mạnh khỏe, Thầy có nhiều bài mới để đám học sinh U70 chúng em được đọc và học thêm.

Thầy và phu nhân (Tết 2007)

____________________
Nguồn: http://www.sggp.org.vn/sggpt7/nhipsong/2014/12/369748/
Xin xem thêm: http://www.sggp.org.vn/saigonthubay/2007/1/82019/


Thầy Dân thăm nhà Nguyễn Xuân Thắng tại Ba Vì, Hà Nội

Tiếng Việt trong sách giáo khoa
và sách giáo khoa tiếng Việt [1]
Nguyễn Đức Dân
1. Gần đây, từ vụ bài thơ ‘Thương ông’ của Tú Mỡ khi đưa vào SGK lớp 2 đã bị sửa chữa, cắt xén, người ta nêu ra hàng loạt thơ văn của Đỗ Trung Quân, Vũ Quần Phương, Trần Đăng Khoa, Vũ Đình Minh, Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Phủ Ngọc Tường… cũng gặp những hiện tượng sai lệch tương tự khi đưa vào SGK.
Chọn lựa đưa vào SGK truyện ngắn, bài thơ của tác giả này hay tác giả khác cho phù hợp với mục đích dạy tiếng  Việt ở nhà trường là thẩm quyền của người biên soạn. Nhưng tác giả có tác phẩm được lựa chọn cũng có tác quyền mà người tuyển chọn phải tôn trọng.
Học sinh chẳng những cần được dạy những gì chuẩn mực về kiến thức mà còn cần mẫu mực về tính khoa học khi dùng một văn bản. Ngay từ tiểu học các em cần được hình thành thói quen nghiêm ngặt phân biệt nguyên tác và bản được biên tập lại. Người soạn SGK cũng cần theo đúng thao tác tối thiểu của một người làm khoa học: a) Khi tác phẩm được đưa vào SGK thì cuối tác phẩm cần chua tên tác giả và tác phẩm đứng trong ngoặc đơn. b) Khi cắt bớt một phần văn bản thì phần đó được thay bằng dấu ba chấm đứng trong ngoặc đơn: (…). c) Khi tóm lược một văn bản hay một đoạn văn, hoặc khi sửa chữa, thêm bớt câu chữ (tức là “biên tập” lại văn bản) của một tác giả ABC thì phần cuối đứng trong ngoặc cần ghi: (theo ABC).  
Rất nhiều “sạn” trong sách giáo khoa hiện nay

Có điều, khi biên tập lại một bài thơ người ta thường dễ phá hỏng bài thơ đó chứ không làm nó hay hơn theo ý nghĩ chủ quan của nhà biên tập. Khi sửa lại câu thơ “Quê hương là con diều biếc/Tuổi thơ con thả trên đồng” của Đỗ Trung Quân thành “Quê hương là con diều biếc/Chiều chiều con thả trên đồng”  (TV1,  II), người ta đã phá hỏng tứ thơ con diều tuổi thơ   thành một điều bình thường: con diều thả chiều chiều. Khi biên tập lại câu thơ “Trăng tròn như quả bóng/Đứa nào đá lên trời?” (Trăng ơi từ đâu đến?) của Trần Đăng Khoa thành “Trăng tròn như quả bóng/Bạn nào đá lên trời?” chắc người biên tập nghĩ rằng dùng từ “bạn” sẽ hay hơn, giáo dục các em ăn nói có “văn hóa” hơn, “lịch sự” hơn, nhưng lại quên rằng “đứa” là một từ hồn nhiên rất thật trong những góc sân chơi trẻ em.
2. SGK ngữ văn (NV) hiện nay, riêng phần tiếng Việt, có nhiều mục đưa vào những kiến thức ngôn ngữ học “hiện đại” nặng nề,  tràn lan, vội vã, tựa như muốn các em mai sau đều trở thành những nhà ngôn ngữ học.  Chẳng hạn:
Ở đầu lớp 9, các em đã phải học đến 3 bài về phương châm hội thoại của P. Grice. Sách (NV9, I) không dẫn đích danh đây là lý thuyết lô gích hội thoại của P. Grice, nhưng tôi khẳng định là như vậy. Grice dựa trên ý tưởng những người tham gia hội thoại là những tất nhiên duy lý, họ tuân theo một nguyên lý chung duy nhất là nguyên lý cộng tác, thể hiện trong 9 phương châm hội thoại được nhóm lại trong 4 phạm trù của Kant là số lượng, chất lượng, quan hệ (còn gọi là thích hợp) cách thức. Mà SGK trình bày cũng không chuẩn. Chẳng hạn đoạn ghi nhớ về phương châm lượng như sau: “Khi giao tiếp, cần nói cho có nội dung; nội dung của lời nói phải đáp ứng yêu cầu của cuộc giao tiếp, không thiếu, không thừa” (NV9, I, 9). Câu này đã gộp nguyên lý cộng tác với phương châm lượng chứ không chỉ là phương châm lượng. Hơn nữa, thế nào là “cần nói cho có nội dung”?  Hay đoạn ghi nhớ về phương châm chất: “Khi giao tiếp, đừng nói những điều mà mình không tin là đúng hay không có bằng chứng xác thực” (NV9,  I, 10). Viết vậy vừa nặng nề vừa dư thừa. Chỉ cần viết: “Khi giao tiếp, đừng nói những điều mình tin là sai hay không có bằng chứng”. Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là những phương châm hội thoại của Grice không phải là khuôn vàng thước ngọc cho nguyên lý giao tiếp mà phải đưa vào SGK. Chẳng thế mà từ khi Grice công bố rộng rãi lý thuyết của mình (1975) chừng chục năm sau (1984) người ta đã phát hiện ra những điều chưa thỏa đáng trong các phương châm này và có những lý thuyết chỉnh sửa, rút gọn các phương châm của Grice và hình thành phái ngôn ngữ học hậu-Grice (post-Grice) rồi Grice-mới  (neo-Grice). Xin nêu một ví dụ. Khi nói “Bác sĩ cắt vào ngón tay” thì chúng ta biết đó là ngón tay của bác sĩ. Còn “Bác sĩ tìm thấy một ngón tay” thì ngón tay đó không phải của bác sĩ. Với câu “Nó đi vào một ngôi nhà” thì chúng ta biết ngôi nhà đó không phải của nó, còn “tôi đi vào nhà” thì hầu như được hiểu đó là nhà của tôi. Các phương châm hội thoại của Grice không giải thích được điều này. 
3. Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của nhà trường là dạy học sinh trở thành những người biết độc lập suy nghĩ, có năng lực tư duy phản biện, thể hiện qua kỹ năng lập luận (argumentation). Học sinh tiếp thu và hình thành năng lực lập luận chủ yếu qua văn nghị luận. Trong bài văn nghị luận có luận điểm, luận cứ lập luận.  
SGK sính dùng thuật ngữ “thao tác”. Từ thao tác nghị luận, tới thao tác lập luận so sánh, thao tác lập luận phân tích, thao tác lập luận bác bỏ rồi thao tác lập luận bình luận. (!) Nhưng thao tác là gì?  “Thao tác nghị luận là những động tác được thực hiện theo trình tự và yêu cầu kĩ thuật được quy định trong hoạt động nghị luận.”  (NV10, II, 134).  Không có chỗ nào trong  NV10 hoặc NV các lớp trước giải thích thế nào là “động tác được thực hiện theo trình tự và yêu cầu kĩ thuật được quy định trong hoạt động nghị luận”. Vậy đây là một định nghĩa không chuẩn. Không thể dùng những điều chưa biết để định nghĩa một khái niệm.  Học sinh đành phải nhớ vẹt một định nghĩa “thao tác nghị luận” nghe có vẻ  uyên bác, hàn lâm nhưng lại rất mơ hồ này.
SGK nêu 9 “thao tác” nghị luận: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp và so sánh (NV10, II, bộ cơ bản), thêm chứng minh, giải thích (NV10, II, bộ nâng cao, 147), cuối cùng là lập luận bác bỏ lập luận bình luận (NV11, bộ cơ bản). Trong số này có những “thao tác” không đúng.
Phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp so sánh…là những phương pháp dùng trong nghiên cứu khoa học tất nhiên cũng được dùng trong văn nghị luận. Về cơ bản, lập luận (LL) là xuất phát từ những tiền đề (còn gọi là luận cứ), dựa trên những lý lẽ để đi tới kết luận.  Chứng minh toán học là LL về một chân lý. Lý lẽ ở đây là những định lý đã biết. Lập luận là chứng minh. Khi chứng minh phải lập luận nên không có “thao tác” nghị luận chứng minh.Trong đời thường, dùng LL để thuyết phục, tạo niềm tin. Nói cốt sao người nghe thấy “lọt lỗ tai” rồi tin theo là LL thành công. Thuật ngữ thao tác LL dùng trong sách NV chính là phương pháp LL 
Nghị luận là dùng lý lẽ để nhận biết đúng sai, từ đó mà đánh giá, khen chê tốt xấu.   
LL là yếu tố then chốt trong văn nghị luận. Bình luận là nhận định, bàn bạc rồi đánh giá về một sự kiện. Đó là cũng lập luận. Có cần “thao tác” LL bình luận như (NV11, II, 71) không?
Cũng không có “thao tác lập luận bác bỏ” mà học sinh lớp 11 phải bỏ cả một tuần (thứ 21) để học. Thực ra chỉ cần nêu một vài ví dụ đơn giản là học sinh hiểu thế nào là bác bỏ. Ví dụ: SGK lớp 3 có bài Dại gì mà đổi. Đại ý: Có đứa con nghịch ngợm. Người mẹ dọa: - Mẹ sẽ đổi con lấy đứa bé ngoan. Đứa con đáp: - Mẹ không đổi được đâu. Chẳng ai dại gì đổi đứa bé ngoan lấy đứa con nghịch ngợm đâu (theo TV3, I). Thế là đứa con đã bác bỏ ý kiến người mẹ bằng một  lý lẽ rất đúng và thông minh. Khái quát là lý lẽ người ta chỉ đổi cái của mình lấy một cái tốt hơn.  Để bác bỏ ý kiến A người ta chỉ cần tìm lý lẽ cho thấy A là sai hoặc không thể xảy ra.
Muốn nâng cao năng lực phân tích, óc phê phán, phản biện của học sinh sinh viên, vai trò của lập luận cần đặt lên hàng đầu trong chương trình ngữ  văn. Mà dạy lập luận là dạy về lý lẽ.  
     
Có muôn mặt quan hệ xã hội và quy luật tự nhiên nên cũng có vô vàn lý lẽ về những quan hệ ấy, những lý lẽ liên quan tới đặc điểm xã hội, văn hóa, con người, phong tục... xuất hiện trong đời sống hàng ngày, trong diễn văn chính trị cũng như khoa học và trong tác phẩm văn học.

          Sáng tác ra tác phẩm hay là tài năng của nhà văn. Chọn ra tác  phẩm hay là công việc của nhà soạn SGK. Còn phân tích chỉ ra những điểm hay trong tác phẩm lại là nhiệm vụ của người thầy. Khi trình bày về văn nghị luận, lập luận, sách NV ít chú ý tới lý lẽ.

Dạy lý lẽ cần trình bày chặt chẽ, một cách rèn luyện tư duy lô gích cho học sinh. Có những câu tưởng như chẳng có lý lẽ gì, nhưng phân tích kỹ lại thấy chứa đựng nhiều lý lẽ sâu xa. Chúng ta minh họa qua câu của Trần Đăng Khoa:

          Có lần Nguyễn Khải tâm sự: “Cha Phùng Quán ghê lắm. Hồi ấy lão có tí tuổi đầu, nghe người ta kể mà làm được cái  Vượt Côn Đảo hay đến như thế.” Một ngòi bút tầm cỡ như Nguyễn Khải mà còn bái phục Vượt Côn Đảo thì không thể xem thường” (Chân dung và đối thoại, 270)

Nguyễn Khải khen “Phùng Quán ghê lắm” và chứng minh bằng 2 lý lẽ về thang độ. “Có tí tuổi đầu” thể hiện lý lẽ trẻ không bằng già về nhận thức và kinh nghiệm sống. Còn “nghe người ta kể” cũng thể hiện lý lẽ trăm nghe không bằng một thấy”. Gộp lại, tất phải nghĩ rằng ít tuổi và nghe kể sẽ không có tác phẩm hay được. Từ trỏ quan hệ nghịch nhân quả nên đã đảo hướng lập luận.  Kết quả là câu của Nguyễn Khải bộc lộ ý sau: Chỉ mới tí tuổi đầu và chỉ mới nghe mà đã viết hay vậy, nếu trưởng thành và trực tiếp thấy thì còn viết hay hơn rất nhiều: cha Phùng Quán ghê lắm!
Lời bình của Trần Đăng Khoa cũng là lý lẽ theo thang độ uy tín: Nguyễn Khải là ngòi bút tầm cỡ trong làng văn. Ông bái phục Vượt Côn Đảo thì đại đa số những người khác trong làng văn xếp thấp hơn ông trên thang độ cũng phải bái phục (không thể xem thường).
4. Cuối cùng, việc chọn những bài tiêu biểu để dạy về văn nghị luận, lập luận cũng rất quan trọng. Nên chọn một vài diễn từ chính trị kinh điển bất hủ đưa vào SGK. Chẳng hạn, nên chọn bài I have a dream (Tôi có một giấc mơ) của mục sư M.L. King ngày 28.8.1963. Đây là diễn văn được giới học giả bình chọn là đứng đầu bảng trong số 100 bài diễn văn xuất sắc nhất của thế kỷ XX[2] và sau hơn 50 năm, đến nay chưa hề mất tính thời sự nóng bỏng: cuộc đấu tranh giải phóng người da đen, chống nạn phân biệt chủng tộc. Bài này hội đủ các yếu tố của một diễn từ chính trị tuyệt vời, từ khung cảnh đọc (ở tượng đài kỷ  niệm tổng thống Abraham Lincoln), cấu trúc bài, tới chủ đề thời sự nóng bỏng trong xã hội Mỹ: tự do của người da đen, tới nghệ thuật trình bày, nghệ thuật ngôn từ và đặc biệt là những kiểu lập luận và chuỗi lập luận, nhiều câu trích từ Kinh Thánh, từ Tuyên ngôn giải phóng nô lệ của A. Lincoln. Bài diễn văn mở đầu cho cuộc tuần hành ngày  28.8.1963. 
             Lập luận có tầm quan trọng đặc biệt trong chương trình ngữ  văn. Lập luận cần được dạy xuyên suốt chương trình  ngữ  văn.
  
Đ/C:
Nguyễn Đức Dân
118/12 Trần Quang Diệu, Q.3, TP HCM
Đt: 0919 42 02 74




[1] Bài đã đăng trên tuần san Sài Gòn giải phóng thứ bảy, số ngày 13.12.2014
[2] Xem trang http://www.news.wisc.edu/misc/speeches