Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2014

Chỉ tại biến đổi khí hậu (Đình Tài sáng tác)



(BBT- 20/11/2014) Sau chuyến đi Mộc Châu cùng Lớp G Xuân Đỉnh có bà xã đi kèm, nhà văn trẻ mới nổi U70 Đình Tài thấm đẫm tình yêu thiên nhiên môi trường trong lành của đất và người cao nguyên vùng Tây Bắc. Về Hà thành ngột ngạt, nhà văn sáng tác tiểu phẩm mới về môi trường và biến đổi khí hậu. BBT xin mời các bạn Lớp G thưởng thức tuyệt phẩm này. Xin cám ơn bạn Đình Tài và xin cám ơn phu nhân nhà văn đã tạo cảm hứng cho PGS. Nguyễn Đình Tài ra đời các tác phẩm để đời . 
Nhân dịp ngày lễ 20-11 xin chúc mừng 2 nhà giáo Tài Nhung. 
Chúc 2 bạn sức khỏe và hạnh phúc.



CHỈ TẠI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

                                                                           Nguyễn Đình Tài

Tôi hăm hở rẽ vào phố lớn thị xã đến nhà Khuất Tất Triệu, thằng bạn thuở học cùng mẫu giáo bé. Từ bàn tay trắng chạy từ Thủ đô vào mà bây giờ hắn đường đường là một Giám đốc công ty xây dựng có cỡ - một đại gia của cái tỉnh Miền Trung nắng gió này.
Cuối thu đầu đông rồi mà trời đất ở đây vẫn rất đẹp, khô ráo, mát  mẻ. Chẳng bù cho giờ này năm ngoái, mưa lũ ào ạt, trời long, đất lở,  đường xá lầy lội, nhớp nháp. Ghé qua nhà hắn tâm trạng tôi lúc đó thật chán chường, “nhớp nháp” hơn cả thời tiết chết tiệt ấy. Vậy mà, gặp Triệu mọi sự buồn chán trong tôi bay đi hết trước thái độ hân hoan, phấn khích của hắn. Hắn ôm chặt lấy tôi, phả hơi bia nồng nặc, khủng khiếp vào mặt tôi, cười sằng sặc bắn cả một mẩu thịt tái dê giắt răng vào má tôi. Ghê quá, nhưng tôi vẫn phải nhịn thở, cười lớ phớ theo, còn hai tay tìm cách gỡ bàn tay múp míp của hắn ra khỏi lưng.  Đại gia có khác, mặt mày đỏ au, cổ to bành hai ngấn, bụng bự, còn giọng nói choang choang bẹt bẹt đến là oai. Hắn bắt tôi bỏ béng mấy cái ngày hội thảo khoa học  dở hơi nửa mùa đó đi và dẫn tôi đi du hí, thăm trang trại của hắn, đi hát, đi mátxa, đi nhậu nhà hàng xả láng,…
Tôi bấm chuông nhà hắn, ngôi biệt thự  hao hao giống lầu năm góc với một góc nở hậu phình to hơn bốn góc kia.
- Sĩ đấy à! Vào đi. - Giọng hắn uể oải. Ngay lúc đó, con chó Nhật màu cháo lòng lao ra ôm lấy chân hắn. Bùm! Hắn dùng chân trái đá một phát trời giáng làm con chó con bay đúng vào bụng bà vợ. Bà này, phản xạ như Rônanđô, dùng chân phải đạp một nhát tiếp, rồi làu bàu đi vào bếp. Con chó đáng thương ngã vật, kêu ăng ẳng. Người tôi như bị mất điện.
          – Xin lỗi! Có lẽ tôi đến không đúng lúc!?
– À không, vào đi, làm vài lon bia nhá? - Không đợi tôi trả lời, hắn kéo thùng  bia Sài Gòn dưới gầm bàn ra và “rút chốt”. Không còn tâm trạng, nhưng tôi cũng nhếch nụ cười gượng  và ngồi xuống đi văng.
- Sao, công việc của ông thế nào? – Tôi mào đầu câu chuyện.
- Chẳng ra thế nào cả! Đang lết bết như sắp chết đây.
- Sao thế, tôi thấy thị xã của ông ngày càng “ngon ra”, đẹp như tranh, không lầm than, lam lũ như hồi năm ngoái, chắc có công của Công ty ông. Chưa kể, trời đất  năm nay đẹp làm sao! – Tôi tuôn ra một hơi cảm xúc.
- Đấy, đấy, chết ở cái câu cuối ông vừa thốt ra đấy. – Triệu chồm lên.
- Sao cơ, trời đẹp thì có làm sao?
- Làm sao à?  Tôi, à đúng ra là Công ty tôi, sống được là nhờ trời xấu, ăn theo mưa lũ, ông hiểu chưa?
- Chưa! – Tôi  thộn mặt ra.
- Công ty tôi chuyên xây đường xá cho thị xã, mà đường đất thì có hạn, nếu chúng không hỏng nhanh  thì chúng tôi không việc, mà không việc thì đói.
- Vẫn chưa “thủng” lắm. – Tôi vẫn ngơ ngác.
- Thế mà cũng không hiểu! Muốn chúng hỏng nhanh thì cần mưa, cần bão, cần lũ, hiểu chưa! - Triệu nói như quát.



- Rồi, vậy là mưa lũ sẽ bóc lòi con đường các bố xây ẩu,  đá lẫn đất, nhựa đường mỏng lét và khi dân kêu, thanh tra chưa kịp đến thì tang vật đã “trôi” hết rồi chứ gì. Đổ hết cho Trời.
- Ờ, cha này, té ra cũng loại “luôn luôn lắng nghe lâu lâu cũng hiểu”! – Triệu bóp bẹp lon bia rỗng nhằm con cho Nhật ném bụp vào đầu nó. – Chỉ tại biến đổi khí hậu. Tôi căm thù “thằng cha biến đổi khí hậu”!
- Hả? – Tôi lại đần mặt.
- Giá như không có thằng ấy thì   Miền Trung này cứ bão lụt đều, thì thằng này túi cũng căng đều. Đằng này trời đẹp mới chết chứ. Rõ chán! – Triệu thở dài, ngán ngẩm. – Năm nay Thanh tra nó vào thì chỉ còn nước ngồi bóc lịch.
- Ờ,  “Thằng cha biến đổi khí hậu” thật đáng ghét!  Không biết đâu mà lần.  Cái sướng của người này hóa ra là cái khổ của người khác và ngược lại.  – Tôi giở giọng triết lý phụ họa cảm thông, nhưng trong đầu lại điên tiết nghĩ đến hình ảnh những khuôn mặt đắc ý của các đại gia cầu đường Sài Thành trong những cơn triều cường vì biến đổi khí hậu. Chết tiệt!




Chia tay Khuất Tất Triệu, tôi quay về dự hội thảo khoa học “nửa mùa” của mình. Trời nắng sáng thật đẹp soi rõ từng ổ gà, ổ voi và những kẽ nứt toác nhựa bong lòi đá của con đường đôi phố chính của thị xã. Bỗng hự, hự,… chiếc xe máy của tôi  nhảy tưng lên rồi gục xuống như con ngựa già quá sức hất tôi xuống hố cống không nắp.  Mở mắt, tôi thấy mồm mình đang bị chụp bình thở ô-xy. Trong tai tôi vẳng lên giọng cười choang choang, bẹt bẹt của Triệu. Đồ biến thái! Tất cả chỉ tại biến đổi khí hậu!



Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014

Thầy DÂN thăm Hà nội 10-2014

Cuối tháng 10-2014 Thầy Nguyễn Đức Dân ra thăm Hà nội. Lớp G đã tổ chức cuộc gặp mặt với Thầy chiều tối ngày 18/10/2014 tại nhà hàng Quang Minh ở đường Láng. Bạn Nguyễn Bá Ân đến dự liên hoan và được Thầy tặng sách.














Bạn Nguyễn Xuân Thắng không đến dự cuộc gặp mặt hôm 18/10 được, đã mời Thầy đến thăm nhà mới của bạn. 
Chiều ngày 24/10/2014 Thầy Dân được các bạn Lớp G tháp tùng lên nhà bạn Xuân Thắng và nhà vườn bạn Mai Đình Nội. 
Chủ tịch Hiệp hội UNESCO VN Xuân Thắng đã vào bếp nấu ăn chiêu đãi Thầy cùng các bạn. 


















Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014

RA BẮC VÀO NAM (Ng. Đức DÂN)



Triết lý tiếng Việt trong ‘vào Nam ra Bắc
                                                                                          Nguyễn Đức Dân
http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20140401/triet-ly-tieng-viet-trong-vao-nam-ra-bac/600871.html

1.             RA, VÀO là hai từ chỉ vận động định hướng trong không gian
Tại sao nói ‘vào Nam ra Bắc’ nhưng  không thể nói ‘*vào Bắc ra Nam’? Tại sao một  em bé mới sinh được gọi là ‘mới ra đời’ còn những sinh viên tốt nghiệp và rời trường thì được gọi là ‘bước vào đời’? Những câu hỏi này liên quan tới hiện tượng chuyển nghĩa rất thú vị của các từ  ra, vào.
          Ra, vào là những vận động định hướng. Về ý nghĩa chúng có liên hệ chặt chẽ với hai từ  trỏ vị trí trong, ngoài: ‘Người xấu duyên lặn vào trong/ Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài. (ca dao)
Từ thời xa xưa  tổ tiên chúng ta nhận ra trong hang thì hẹp và ngoài hang thì rộng. Nói ‘đi ra ngoài hang, đi vào trong hang’ rồi khái quát thành: đi ra là đi từ một không gian hẹp tới một không gian rộng hơn, như em bé từ bụng mẹ ra đời; còn đi vào là đi từ một không gian rộng tới một không gian hẹp hơn. Từ trong ứng với không gian hẹp, từ ngoài ứng với không gian rộng.  Nhưng không gian nào rộng, không gian nào hẹp? Quan hệ trong-ngoài, hẹp-rộng chỉ là tương đối có  trong tâm thức người Việt và  được sắp xếp theo quy ước. Chẳng hạn:  buồng hẹp hơn  nhà , nhà hẹp hơn sân, sân hẹp hơn  vườn, vườn hẹp hơn  ngõ …
Vậy nên chỉ cần nghe “đi ra sân” là chúng ta biết ai đó từ buồng, từ bếp, từ nhà đi ra sân. Còn khi nghe “đi vào sân” là hiểu ngay ai đó từ vườn, từ ngõ…  đi vào sân.
2.             Cách  nói theo điểm nhìn trong  tiếng  Việt
một ông ngồi trong phòng khách. Tiếng  Việt và tiếng  Anh có cách nói giống nhau về vị trí của người này so với phòng khách: “Ông ấy đang đợi  ở   phòng khách” và “He is waiting in the living room”.
Người Việt còn có cách nói theo điểm nhìn rất đặc sắc. Đó là  lấy vị trí của mình so với vị trí của người đàn ông để nói. Đang ở  trên lầu cao thì nói ‘Ông  ấy đang đợi dưới  phòng khách’. Nếu ở dưới bếp thì nói ‘Ông ấy đang đợi trên  phòng khách’. Còn như đang ở trong buồng thì phải nói ‘Ông ấy đang đợi ngoài phòng khách’. Và ‘Ông ấy đang đợi trong phòng khách’ là cách nói của những ai đang ở ngoài sân, ngoài vườn.

3.             Mở rộng nghĩa I: Dùng  khuôn mẫu của quan hệ không gian hình học cho những quan hệ khác
Đội bóng,  trường học,  xí nghiệp,  hội đồng quản trị,  ban chấp hành,  đoàn thể, quân đội, công sở, làng xóm,  tuần lễ, tháng, năm học… đều là những tập hợp. Chúng tạo thành những không gian xã hội trừu tượng được  nhận thức như những  không gian hình học. Ấy thế là có cách dùng vào, ra, trong, ngoài y như trong không gian hình học: cũng có quan hệ trong-ngoài (bao chứa, thuộc vềkhông   thuộc về ), ra khỏi đi vào:
Chạy được một chân trong ban chấp hành; trong (dịp) Tết giá tăng chóng mặt;  nói trong khoảng 5 phút;  thi vào đại học;  được gọi vào đội tuyển; đường vào làng; xung phong vào bộ đội; vào tuần sau mới có kết quả;  vào mùa mưa;  đã ra khỏi  đảng ủy; lễ ra quân chiến dịch mùa hè xanh; cô ấy ra trường đã 3 năm; bị chấn thương, cầu thủ A đã ra (khỏi) sân… Con người chuyển động trong không gian cũng là chuyển động trong thời gian. Kết thúc một năm – kết thúc một tập hợp – chúng ta ra khỏi tập hợp đó. Vậy nên có lối nói ra giêng (ngày rộng tháng dài); ngoài giêng; ngoài giám đốc và kế toán trưởng không ai được biết quỹ riêng của công ty…

4.             Mở rộng nghĩa  II:  Nhận thức về thuộc tính của quan hệ không gian
Hàng loạt nghĩa mới của hai từ ra, vào được hình thành liên quan đến nhận thức: a) Trong-ngoài là quan hệ hẹp-rộng, khép-mở, chúng tạo ra những quan hệ về thuộc tính, và b) Hướng chuyển động chuyển thành thuộc tính.  Đi vào là đi tới nơi hẹp, nơi bị khép lại,  còn đi ra là đi tới nơi rộng mở.   
Quan hệ  hẹp – rộng chuyển thành quan hệ  kín – rõ. Mà kín là bí mật, không thấy được. Ấy vậy nên, từ vào để chỉ những sự việc hoặc hành động bí mật, không thấy được: Đảng rút vào hoạt động bí mật; Tên gian đã lẩn vào đám đông; vấn đề đi vào ngõ cụt. Từ ra để chỉ những sự việc hoặc hành động  thấy được; công khai: tiến ra sân khấu, cầu thủ A đã được đưa ra sân thay thế cho cầu thủ B.
Chuyển động ‘ra’ là chuyển động từ không gian khép sang không gian mở, là chuyển động theo hướng ly  tâm như: giang tay ra, duỗi chân ra, mở gói ra, cởi áo ra, bàn ra, tháo ra, thuyền ra khơi xa… Khái quát lên là từ thu hẹp sang phát triển. Khái quát nữa là sự vật chuyển thuộc tính  từ tiêu cực (âm) sang tích cực (dương). Điều này được  thấy trong các lối nói trắng ra , béo ra, trẻ ra, khỏe ra, đẹp ra, tươi ra, đỏ đắn ra, xinh ra, tỉnh ra, ăn nên làm ra…
Ngược lại, từ vào dùng cho những hoạt động hướng tâm: co tay  vào, nhìn thẳng vào sự thật,  nhảy vào cuộc, nói vun vào, lãnh đạo cần gương mẫu để cho quần chúng còn nhìn vào…    
 Quan hệ không thấy được – thấy được chuyển thành quan hệ  chưa biết – biết, phát hiện; giữ kín – bộc lộ. Từ ra để chỉ những gì ta biết, ta phát hiện: tìm ra đáp số; tìm ra thủ phạm; chỉ ra những chỗ sai; nhận ra người quen; nổ ra cuộc tranh luận. Từ ra còn trỏ những gì được bộc lộ: hiện ra, bày ra, làm   ra... Trong cờ tướng, “ra xe” là quân xe chuyển tới một vị trí mở (bộc lộ) rất rộng đường đi.  Ý nghĩa “bộc lộ , phát hiện”  của từ ra được xuất hiện trong hầu hết các quán ngữ, thành ngữ có từ ra: té ra, hoá ra, thì ra là, thế ra, ra bộ, ra mặt, ra tay, ra cái điều, ra đầu ra đũa, ra môn ra khoai… Từ vào để chỉ những gì chưa biết. Nói tên lửa bay lên vũ trụ vì vũ trụ là không gian cao trên đầu chúng ta; nhưng cũng nói tên lửa bay vào vũ trụ vì trước đây chúng ta hầu như  chưa biết gì về vũ trụ. Chúng ta nói những sinh viên tốt nghiệp đại học và đi làm, nhưng chưa biết gì về cuộc sống, là những sinh viên mới vào đời.  

Tới đây, chúng ta giải thích được lối nói ra Bắc vào Nam: Trong quá trình phát triển, dân tộc Việt Nam đi từ phía Bắc xuống phía Nam. Chúng ta sinh sống ở phía Bắc. Nơi ta sống là nơi ta biết. Đi tới phía Bắc trên đất nước ta là đi tới nơi ta biết nên mới nói  ra Bắc. Ông cha ta đi khai khẩn, khám phá phía Nam là nơi chưa từng sinh sống nên chưa biết. Đi tới phía Nam là đi tới nơi ta chưa biết nên mới nói  vào Nam. Mặt khác, tiến về phương Nam chủ yếu là tiến về nơi rừng núi rậm rạp cũng là chưa biết.  Thế là hình thành  lối nói “vào Nam ra Bắc”. 

--------------------------------------
Lời xin lỗi:
BBT (17/10/2014) - Thầy Dân ra Hà Nội mùa thu trời đẹp. Lớp G tổ chức gặp mặt với Thầy vào chiều tối thứ bảy 18-10-2014 tại nhà hàng Quang Minh (524 đường Láng).
Hồi tháng 4-2014 Thầy gửi cho Blog XĐ một bài viết, BBT quên mất, giờ đây giở lại hộp thư "xuandinh10g@gmail.com" thấy bài "Ra Bắc vào Nam" của Thầy.
Ban biên tập chúng em xin lỗi Thầy và xin đăng bài của Thầy Dân lên Blog lớp G:


Mười ngày sau, Thầy gửi tiếp bài "Làm trai cứ nước hai mà nói", bạn Lương Phúc đã đăng lên Blog (xin xem "Tật xấu người Việt qua tục ngữ" ngày 14/5/2014  )


------------------------------------------------------------

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2014

Lớp G với lớp học tình thương ở An Dương

Dù đã 82 tuổi, bà giáo Hồ Hương Nam (cựu giáo viên Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám -Hà Nội) vẫn theo đuổi nghiệp cầm phấn với tâm nguyện giúp những học sinh mắc chứng bệnh tự kỷ, đao, rối loạn vận động hòa nhập cộng đồng. 17 năm đứng lớp, không thu một đồng học phí, bà giáo Nam được nhiều người ghi nhận như “người lái đò” chở “thuyền chữ” đến với những cuộc đời khó khăn, bất hạnh.


Sau nhiều lần chuyển địa điểm lớp học, trường THCS An Dương đã dành 1 lớp học để bà giáo Hồ Hương Nam dạy cho các cháu bị khuyết tật.

Năm 2010, lần đầu tiên Hà Nội tổ chức vinh danh 10 “Công dân Thủ đô ưu tú”. Danh hiệu “Công dân Thủ đô ưu tú” được xét tặng dựa trên các tiêu chí: cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc, tiêu biểu, tấm gương sáng để mọi người học tập, noi theo trên mọi lĩnh vực như: an ninh - quốc phòng, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường, văn hóa - nghệ thuật, y tế, giáo dục và đào tạo... Từ đó đến nay, cứ vào dịp kỉ niệm ngày Giải phóng Thủ đô 10-10, lại có thêm 10 Công dân Thủ đô ưu tú được vinh danh.
Năm nay, trong danh sách 10 cá nhân dự kiến đề nghị xét “Công dân Thủ đô ưu tú” có: Bà Hồ Hương Nam (1932), phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, nguyên là giáo viên trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám; hiện nay là giáo viên lớp học tình thương tại trường THCS An Dương (Hà Nội). 
 co-giao-4-1354191386_500x0.jpg

Trích bài trên báo Lao động ngày 16/9/2014:
10 cá nhân được đề cử xét tặng danh hiệu "Công dân Thủ đô ưu tú" năm 2014

Có 10 cá nhân được đề xuất xét tặng danh hiệu “Công dân Thủ đô ưu tú” năm 2014 và sẽ trao tặng danh hiệu cho các công dân ưu tú này vào dịp kỷ niệm Ngày Giải phóng Thủ đô 10.10.2014


5. Bà Hồ Hương Nam - phường Yên Phụ, quận Tây Hồ (SN 1932): Nguyên là giáo viên Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám. Sau khi nghỉ hưu, bà tham gia công tác xã hội. Học sinh của bà đều thuộc dạng khuyết tật như trẻ em câm, điếc bẩm sinh, trẻ em tự kỷ.
Bà đã được Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng bằng khen năm 2013; kỷ niệm chương “Vì trẻ em khuyết tật” do Trung ương Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam tặng; UBND TP.Hà Nội tặng danh hiệu “Người tốt, Việc tốt” tiêu biểu năm 2013; nhiều năm liền bà được UBND phường Yên Phụ, quận Tây Hồ tặng giấy khen.



Nhân dịp đầu năm học 2014-2015 đoàn đại diện cựu học sinh Lớp toán đặc biệt Xuân Đỉnh (khóa 1966-1968) do anh Phạm Hữu Quỳ dẫn đầu đã đến thăm lớp học tình thương đặc biệt của 18 cháu tại Trường THCS An Dương và tặng quà cho các cháu. Món quà khiêm tốn gồm 1 chiếc đài cát xét chạy đĩa VCD, các sách vở bút truyện phục vụ học tập và bánh Trung Thu để bà giáo cùng các cháu học sinh liên hoan mừng năm học mới.


Bà giáo Nam cùng cháu lớp trưởng đại diện nhận quà và phát biểu cám ơn tấm lòng của các bác cựu học sinh Xuân Đỉnh trong sự chứng kiến của các cha mẹ học sinh đặc biệt này.



Hòa cùng không khí vui vẻ đầu năm học, các cháu đã hát tặng bà giáo, cha mẹ và các bác cựu học sinh Lớp G một bài hát.





(An Dương 4/9/2014 – Ngọc hà 5/10/2014)

------------------------------------------
Ghi chú: Xin đưa tài chính công khai về việc tặng quà các cháu:

1-     Thu: 2.720.000 (hai triệu. bẩy trăm hai mươi ngàn đồng – xem bài "GS Bá ÂN gặp mặt Thầy và Bạn Lớp G Xuân Đỉnhhttp://xuandinh10g.blogspot.com/2014_08_01_archive.html )

2-     Chi: Đài cát xét 1,7 triệu – Sách vở bút truyện 600.000 đồng – Bánh Trung Thu 395.000
Còn lại 25.000 đưa vào Quỹ CLB Trà Café Bách Thảo



BTC xin cảm ơn tấm lòng của các bác cựu học sinh Lớp toán G đặc biệt Xuân Đỉnh đối với các cháu hoàn cảnh đặc biệt và bà giáo già 82 tuổi.

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

Thầy VINH dạy văn ở Xuân Đỉnh

BBT- Bài này đăng trên Blog của lớp chuyên toán Hà nội sau Lớp G 3 năm (1968-1971) có 2 năm đầu học ở Xuân Đỉnh. Đây là bài viết của bạn Nguyễn Hữu Việt Hưng (nhà toán học - giáo sư tại Trường ĐH KHTN HN vừa được nhận giải thưởng Tạ Quang Bửu cùng GS. Bá Ân lớp G chúng ta) về thầy Vinh dạy văn mà nhiều bạn trong Lớp G còn nhớ. BBT xin đăng lại bài này để các bạn Lớp G nhớ lại một người thầy thời Xuân Đỉnh.
(nguồn: https://cthn6871.wordpress.com/2012/08/28/53/ và http://cthn6871.wordpress.com/thong-bao-cua-bbt-2/ )


Đến Huế tìm thầy Vinh dạy văn chúng mình hồi lớp 9


28THÁNG 82012
  
Bạn Hưng vừa dự Đại hội Toán học Việt-Pháp tại Huế.  Hưng thật hạnh phúc đã được gặp lại thày Vinh sau 42 năm. BBT xin phép bạn Hưng, đăng lại đây bức thư Hưng gửi cho các bạn trong lớp kể về sự kiện này.
Mình vừa vào Huế dự Đại hội Toán học Việt-Pháp, từ 20 đến 24 tháng 8, 2012. Trước đó, qua trang web trường THPT Xuân Đỉnh, mình đã tìm được địa chỉ của thầy Trần Anh Vinh, dạy văn lớp mình hồi 9D. Đó là thầy dạy văn hay nhất trong suốt quãng đời học phổ thông của mình. Chắc các bạn còn nhớ, khi thầy giảng Kiều, nhiều nông dân vác cuốc đi làm ngang qua cửa sổ của lớp (mở về phía sân vận động), đã bỏ cả làm, há hốc miệng mà nghe. Thầy cũng khích lệ chúng ta viết ý kiến riêng của mỗi người lên báo tường, trao đổi về việc Kiều tha bổng Hoạn Thư là nên hay không nên.
Chiều Thứ Hai 20/8, khi ngày làm việc đầu tiên của Đại hội chấm dứt, mình đã tới thăm thầy tại nhà riêng, số 28/4 Hùng Vương, ngay trên trục đường cầu Trường Tiền nối dài, cách cầu 500m về phía Nam. Đó là một căn nhà 2 tầng, trên tổng diện tích 400 mét vuông, có nhiều cây cảnh, trong ngõ đủ rộng để ôtô con đỗ trước cửa.
Thầy Vinh tên thật là Trần Viết Liêu, sinh năm 1934, tuổi Giáp Tuất, năm nay 79 tuổi ta. Thầy người gốc làng Long Hưng, Hải Lăng, Quảng Trị, nhưng sinh ra và lớn lên tại Huế. Ông cụ thân sinh ra thầy, cụ Trần Viết Lượng, là Ngự Tiền văn phòng, thư ký lo việc văn, của vua Bảo Đại. (Bên cạnh Ngự Tiền văn phòng, vua còn có Đổng Lý văn phòng, là thư ký lo việc võ.) Ông cụ tham gia Kháng chiến, rồi đưa cả gia đình ra Bắc. Suốt thời gian ở miền Bắc, gia đình thầy “mai danh ẩn tích”, khai là bần nông, để tránh những hệ lụy nhãn tiền. Ông ngoại của thầy làm quan Ngự Y đến hàng Tứ phẩm dưới triều vua Thành Thái.
Thầy Vinh dạy chúng mình năm học 1969-70. Năm 1972, cô con gái chưa đầy tuổi của thầy mất. Cũng năm ấy, đã 38 tuổi, thầy phải đi bộ đội. Cùng nhập ngũ với thầy từ Sở Giáo dục Hà Nội còn có 8 thầy nữa. Sau này trong số 9 thầy, chỉ còn 3 người trở về. Thầy Vinh chiến đấu trong thành cổ Quảng Trị, đánh nhau với thuỷ quân lục chiến Sài Gòn. Thầy bị thương ở vai phải, may là nhẹ, chỉ vào phần mềm. Mình tin rằng tổ tiên của thầy đã để lại hồng phúc lớn lắm.
Sau ngày đất nước thống nhất 1975, thầy cùng gia đình trở về Huế. Từ đó thầy dạy Khoa Văn trường Cao Đẳng Sư phạm Huế. Thỉnh thoảng thầy nhận dạy chuyên đề cho khoa văn Đại học Khoa học và Đại học Sư phạm Huế. Thầy nghiên cứu sâu về Phan Bội Châu, giai đoạn cụ bị quản thúc tại Huế. Được chắt nội cụ Phan tin tưởng trao cho chìa khoá để khai thác toàn bộ thư viện mà cụ Phan để lại, thầy trở thành chuyên gia về Phan Bội Châu, gian đoạn sau 1923. Thầy đã tìm được 100 bài thơ chưa công bố của cụ Phan. Trong cuốn sách “Vẫn còn tìm thấy những dòng thơ của ông già Bến Ngự – Phan Bội Châu” thầy mới công bố 60 bài đã xác định chắc chắn của cụ Phan. 40 bài còn lại cần khảo cứu một số tồn nghi trước khi công bố. Tặng cuốn sách cho mình, thầy nói: “Người ta bảo chỗ này thừa sức làm một luận án Tiến sĩ. Nhưng tôi già rồi, không nghĩ đến chuyện ấy nữa”.
Hiện nay thầy còn rất minh mẫn, đi lại và lên xuống thang gác nhanh nhẹn. Thầy chỉ ăn mỗi ngày 2 bữa, sáng và trưa. Từ 4 giờ chiều, thầy không ăn gì nữa. Thầy đi ngủ lúc 7 giờ tối, và 2 giờ sáng đã thức dậy. Ý định mời thầy cô đi ăn tối của mình vì thế phải thay đổi. Cô là người Thái Bình, gần 80 tuổi mà cô vẫn đẹp. Năm năm trước cô bị tai biến mạch máu não nhẹ, nay chỉ đi lại được trong nhà và vườn. Cô từ chối lời mời cơm của mình. Thế là, Thứ Ba 21/8, mình mời thầy đi ăn trưa ở nhà hàng nổi trên Sông Hương. Dự bữa cơm còn có ba cựu-nghiên-cứu-sinh của mình, cũng tham gia Đại hội, cả ba đều là tiến sĩ, hai trong số ba người đã là phó giáo sư.
Bữa cơm rất vui. Mình nhắc lại những kỷ niệm hồi 9D Xuân Đỉnh (1969-70). Trong đó có chuyện dạo đầu lớp 9 thầy Vinh mở đầu môn Văn bằng việc công bố những “hằng số” soạn bài: Văn xuôi thì mỗi  trang sách in 1 trang soạn, thơ tự do thì mỗi trang in 3 trang soạn, còn thơ Đường luật thì bất kể tứ tuyệt hay thất ngôn bát cú, mỗi bài 5 hay 7 trang soạn gì đó. (Cả thầy và mình đều không còn nhớ hằng số này.) Một hôm soạn văn, bài thơ “Người đi tìm hình của nước” của Chế Lan Viên, mình thấy Tuấn cắm cúi viết lia lịa, mà mình thì đang cắn bút. Mình phục lắm, ngó sang xem hắn viết gì mà thanh thoát thế. Thì thấy, xen giữa bài soạn, hắn đang viết hàng tràng: “Hồ Chủ tịch muôn năm, Đảng lao động Việt Nam muôn năm. Hồ Chủ tịch muôn năm, Đảng lao động Việt Nam muôn năm…” Hắn bảo viết thế cho đủ số trang, mà nó lại “lành”, thầy có biết cũng không nỡ phạt nặng. Bây giờ, nghe kể lại chuyện này, thầy Vinh cười ngất.
Sáng Thứ Bẩy 25/8, mình đến chào thầy cô trước khi rời Huế. Mình xin thầy cho chụp lại bìa quyển vở thầy chép tay cuốn “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài nhân. Lúc dạy lớp 9D chúng mình, thầy nhiều lần đem cuốn truyện chép tay đó ra đọc, để khẳng định sự hơn hẳn về nghệ thuật của “Đoạn trường Tân thanh” của Nguyễn Du so với tác phẩm văn xuôi “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài nhân. Mình nhớ hồi đó cuốn truyện chép tay được đóng bìa mầu xanh, khổ rộng, giấy đã sờn cũ, rất dầy, cỡ 6-7 phân, trông thật ấn tượng. Thầy vẫn giữ được cuốn truyện đó, nhưng một số phần thầy đã nhờ người đánh máy lại. (Đối với tinh thần khảo cổ thì đó là một mất mát lớn.) Thầy cũng đóng lại cuốn truyện thành nhiều tập nhỏ, cho dễ mang đi dạy.
Tạm biệt mình, thầy Vinh gửi lời chúc cả lớp chúng mình vui khoẻ.
Khi viết thư này, mình vừa gọi điện vào Huế, hỏi thăm sức khoẻ thầy cô, và xác minh lại một số thông tin cho chắc chắc. (Số điện thoại của thầy: 054 382 5186)
Kính mong thầy cô mạnh khoẻ, bách niên giai lão.
Hà Nội, 28/8/2012

BBT
Đây là comment của bạn Bạch Long Giang 
Mình nhớ thày Vinh hồi dạy lớp mình qua hình ảnh sau: Thày to béo, đội mũ kiểu mũ phớt, cắp chiếc cặp da to tướng, đi vào lớp là đi thẳng đến bàn giáo viên, đặt cặp xong, ngồi nghiêm chỉnh rồi mới chào cả lớp. Thày dạy cực hay, cả lớp cứ há mồm nghe mà chả ghi chép được gì. Thày cứ phải nhắc ghi bài. Qua Hưng được biết quãng đường đầy gian khổ của thày, khi phải khoác áo lính, ở tuổi 38, chiến đấu trên chiến trường đầy khốc liệt: chiến trường Quảng Trị, năm 1972. Càng tự hào hơn với người Thày đã vượt qua gian khó, thử lửa của cuộc đời, mà vẫn đóng góp cho đời những áng văn đẹp, khi trở lại bục giảng ở thành phố Huế, quê của Thày. Sưu tầm của Thày về Cụ Phan Bội Châu là một đóng góp lớn cho văn đàn nước nhà. Văn là người, Thày Vinh đã thể hiện rõ ràng điều đó, văn là cái đẹp của con người. Chúc Thày Cô luôn mạnh khỏe.
BLGiang,