Thứ Tư, 23 tháng 1, 2013

TIN BUỒN (BLL)


                TIN BUỒN

Ban liên lạc Lớp G Xuân Đỉnh vô cùng thương tiếc báo tin:

Cụ bà Ông Thị Khải Quang (thân sinh chị Mai và là mẹ vợ của anh [Võ Quý Toàn] ), từ trần ngày 21-01-2013, thọ 92 tuổi.

Lễ viếng được tổ chức từ 13h30 đến 15h00 ngày 23 tháng 01 năm 2013 tại Nhà tang lễ Phùng Hưng, Hà Nội.


Xin chân thành chia buồn với chị Mai cùng tang quyến.


(BLL Lớp G Xuân Đỉnh - 22/01/2013)

-------------------------------------------------


TB:  Anh Toàn mất đã chục năm, nay nhạc mẫu từ trần, còn nhạc phụ của anh vẫn khỏe, có lẽ cụ sẽ sống thọ trên trăm tuổi.
Lớp G đã có đoàn đại biểu đến viếng cụ tại nhà tang lễ Phùng Hưng (chị Ngọc, anh Đỗ Thắng, anh Tường, anh Điều, anh Lân và anh Thuận).
(BBT - 17h30 - 23/01/2013)

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

TIẾNG VIỆT theo dòng thời gian


(Thầy Dân với lớp G Xuân Đỉnh - Hà Nội - 11/2008)

Tiếng Việt theo dòng thời gian[i]

                                                                                       Nguyễn Đức Dân
http://ngonngu.org/dong_thoi_gian.htm


1.   Có những nhà văn, nhà báo Việt Nam đầu tiên  đặc biệt coi trọng vai trò của tiếng Việt. Nguyễn Văn Vĩnh từng nói “Nước Nam ta mai sau này,  hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ”. Suốt đời ông mong sao  chữ quốc ngữ có một tương tai rực rỡPhạm Quỳnh cũng có một câu bất hủ: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; Tiếng ta còn, nước ta còn.
Chúng ta đề cập tới dòng chảy tiếng Việt từ khi dùng chữ quốc ngữ viết báo. Mở đầu bằng Gia Định báo (GĐB,1865) ở Nam Bộ và Đông Dương tạp chí(ĐDTC, 1913) ,  Nam Phong tạp chí  (1917) ở  Bắc Bộ.
Tiếng nói một dân tộc luôn luôn thay đổi ở cả 3 mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp, nhanh chậm, nhiều ít khác nhau tùy lúc tùy nơi. Thay đổi về ngữ âm rất chậm, hầu như không thấy. Thay đổi ngữ pháp diễn ra nhanh hơn nhưng vẫn rất chậm và ít. Nhưng biến đổi từ vựng thì nhanh hơn  và  thường xuyên hơn. 
2. Chữ quốc ngữ
    Chữ quốc ngữ là một hệ chữ La Tinh viết theo cách ghi âm. Rất đơn giản và dễ  học.  Truyền bá được chữ quốc ngữ  là người Việt có cơ hội tiếp xúc  những nền văn minh Tây phương  rất quan trọng dùng chữ La Tinh.  Ngay năm đầu tiên của Đông Dương tạp chí,  năm 1913, Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch đăng bài thơ ngụ ngôn của  Lafontaine "Con Kiến và con Ve sầu" và nhanh chóng được đông đảo bạn đọc yêu thích.
GS Hoàng Xuân Hãn đặt ra danh từ khoa học,  nhờ đó tiếng Việt  dùng được để dạy ở trung học và đặc biệt là ở đại học. Trước đó  GĐB  gặp nhiều khó khăn khi diễn đạt các thuật ngữ khoa học: “Mạch nước nóng, nước ngũ kim”, “nước thán khí” chứ chưa gọi là  nước khoáng,  nước có gas. Thực tế cho thấy tiếng Việt có thể diễn giải chính xác  bất kỳ khái niệm nào.  Mọi ngôn ngữ đều có những hiện tượng mơ hồ, nhập nhằng. Trong  dịch máy  hiện nay, làm  mất mơ hồ, vẫn là bài toán khó khăn nhất.
Chữ viết là quy ước nên chuẩn mực chính tả cũng là quy ước. Chính tả do con người đặt ra.  Như mọi hệ thống chữ viết khác, không tránh khỏi một số bất hợp lý trong chữ quốc ngữ. Cho nên, đôi lúc đó đây lại có những đề nghị “cải tiến” chữ quốc ngữ và chính tả.
          Về chính tả, khi viết tên riêng nước ngoài thì phiên âm hay giữ nguyên dạng. Khuynh hướng để nguyên dạng  có ngay từ GĐB,  ngày càng được nhiều người dùng. Từng có người dùng chữ thay cho d~ và gi~;  thay cho ph~…Từng có thời, có báo dùng  gạch nối ở từ ghép. Sau thấy tốn giấy, tốn công sắp chữ nên bỏ. Cũng có báo thử  viết liền. Viết liền lại tạo ra những mơ hồ tiềm năng. Phụ âm cuối của tiếng này có thể thành phụ âm đầu của tiếng liền sau. Biết hiểu quỳnhanh quỳnh anh  hay quỳ nhanh, còn cưngơi  là cư ngơi hay cưng ơi?
Chữ quốc ngữ uyển chuyển. Từ nhu cầu thực tiễn chúng ta đã thêm các ký tự  F, J, W, Z  vào bộ chữ cái để viết các từ ngoại lai và không gặp trở ngại gì. Có điều không cần những văn bản “pháp quy” đưa 4 ký tự trên vào bảng chữ cái chữ quốc ngữ.
Không ai lường trước các khả năng có thể, nên luôn luôn  xảy ra những ngoại lệ chính tả vượt  khỏi cái lô gích thông thường. Chẳng có lô gích nào giải thích được cách dùng các phụ âm đầu r~/d~/gi~ khi viết con dâu  nhưng lại viết con rể, trong khi viết  bờ giậu thì lại viết bờ rào. Vậy chính tả là võ đoán. Có điều một khi đưa ra những quy tắc không hợp lý thì người ta sẽ “vượt rào”. Quy định (QĐ) chính tả cho âm vị có hai cách viết i/y rơi vào trường hợp này. Ngày 30.11.1980  Bộ Giáo Dục ra QĐ: “…trường hợp các âm tiết có nguyên âm i  ở cuối thì viết thống nhất bằng i , trừ uy…”  
     QĐ trên không chú ý tới một quy tắc bất thành văn về tính thẩm mỹ  trong chữ quốc ngữ: hình chữ phải đẹp,  trong đó có sự   cân đối về độ cao giữa các con chữ khi viết.
Cân đối nghĩa là ghép  những phụ âm cùng độ cao với /i/ thì có khuynh hướng dùng  i:  Ví dụ:  viết  vi phạm, vì vậy, vị trí,  si mê,  mị dân … mà không viết vy phạm, vỳ vậy, vỵ trí, sy mêmỵ dân. 
Cân đối còn được hiểu là trong một từ nếu  một ký tự có phần nhô cao lên thì ta viết  nhằm tạo ra sự hài hòa trên dưới.  Viết lý thì phần trên và phần dưới chữ này cân đối với nhau, còn viết  lí  thì phần dưới chữ này hơi bị hụt. Trong GĐB và  Nông Cổ Mín Đàm (NCMĐ) đều viết như vậy: chánh lý, có lý lắm, ký tên, thơ ký,trong kỳ 15 ngày, xem kỹ
     Kích thước con chữ cũng là một lý do thẩm mỹ: Chữ i có kích thước ngắn hơn chữ y,  tạo ra  ấn tượng là một đối tượng nhỏ Vậy nên có khuynh hướng dùng i ngắn cho những đối tượng tạo ra  ý niệm  nhỏli ti, tỉ mỉ, vi tính, chi li, chi tiết, chơi bi, sân si, lí nhí … Hình như không ai viết chơi by, tỷ mỷ; chy ly, chy tiết, vy tính…
 Có những thói quen ngôn ngữ không tìm được lí lẽ của nó. Mĩ là đẹp (mĩ mãn), nhưng  mọi người quen  viết  nước Mỹ, châu Mỹ.   Những biến thể chính tả như vậy gặp rất nhiều.

3.   Tiếng Việt trên báo chí thời xưa

          Báo chí xuất hiện ở Nam Bộ sớm hơn ở Bắc Bộ. Có những ngộ nhận về ngôn ngữ báo chí Nam Bộ.
Vũ Ngọc Phan, đã bình luận về NCMĐ và Đại Việt Tân Báo như sau: “là những báo chí không có tính cách văn học, chỉ đăng rặt những tin vặt, những thông cáo  của    chính phủ , những bài diễn văn của người đương thời…” (Nhà văn hiện đại, quyển nhất, nxb Vĩnh Thịnh, Hà Nội, 1951). Những tài liệu nghiên cứu  văn học sử và báo chí sau đó đã  theo  ý kiến này mà cho rằng Đông Dương tạp chí  , Nam phong tạp chí mới là  hai  tờ báo đầu tiên góp phần  xây dựng nền văn học hiện đại. Nói  vậy là bỏ qua những đóng góp của báo chí Nam Bộ trong việc hình thành một thứ phong cách ngôn ngữ văn xuôi giản dị gần với khẩu ngữ của những Lê Hoằng Mưu, Trương Duy Toản, Tân Dân Tử, Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh,…nhất là của Trương Vĩnh Ký.
Huỳnh Văn Tòng  cũng viết : “Trước Đông Dương tạp chí có những tờ báo khác như Gia Định Báo , Lục Tỉnh Tân Văn …  Nhưng những tờ báo này thực ra chỉ có tính chất thông tin , văn chương còn luộm thuộm  và hết sức đơn sơ.” (HVT, 2000,123).
Trong khi ở Bắc Bộ Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương ngôn ngữ báo chí là thứ ngôn ngữ gọt giũa, văn chương  thì Trương Vĩnh Ký, ngay từ 1869 đã khuyến khích và huấn luyện “các thầy thông ngôn, ký lục, giáo tập” làm thông tín viên báo chí,  cung cấp bài vở cho phần  “Tạp vụ” của tờ GĐB dùng một thứ “tiếng Việt trơn tru như lời nói”, thứ ngôn ngữ phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc.
Đối tượng của GĐB là người Nam Bộ và là những người bình dân  thì ngôn ngữ cũng phải là phương ngữ Nam Bộ. Có vậy độc giả Nam Bộ mới tiếp nhận được. Viết trơn tru như lời nói theo phương ngữ Nam Bộ  thực sự trở thành  phong cách ngôn ngữ của GĐB. Có điều, phương tiện giao thông chuyên chở báo lúc đó chỉ là những “xe tờ” ngựa kéo. Mãi năm 1922 mới có xe hơi đi từ  Sài Gòn đến lục tỉnh. Bởi vậy, lúc mới ra đời, ảnh hưởng của GĐB nói riêng và báo chí Nam Bộ nói chung chưa vượt ra khỏi vùng đất Nam Bộ. Điều này cũng giải thích vì sao vai trò của ĐDTC và NPTC  được nhấn mạnh hơn.
Nếu như Nguyễn Văn Vĩnh là người có biệt tài về  dịch tiểu thuyết, ông  chịu khó tìm trong kho thành ngữ, tục ngữ của ta những câu diễn đạt ý tưởng mới của Âu Tây khiến  văn dịch của ông tưởng như những nguyên tác  tiếng Việt, thì ngôn ngữ trong GĐB cũng trơn tru như lời nói rất gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày kể cả ở văn dịch. Số báo ngày đầu  tháng chạp năm Tân Tỵ cách nay 130 năm, tức 20.01.1882, có  một chuyện hài hước Tên Arabe đói, như sau:
          “Có một tên Arabe kia, lạc bậy ở giữa đồng cát đói khát đà hai ngày rồi, biết mình chẳng kíp thì chầy không khỏi chết. Lúc đi qua gần một cái giếng, chợt thấy trên cát một cái bị nhỏ bằng da, nó vội vã lượm lấy cái bị ấy, tưởng là bị chà là. Lòng mầng lật đật mở ra. Mắt vừa ngó thấy đồ trong ấy thì vùng la khan lên rằng : “Thảm thay! Tinh những là ngọc mà thôi!”
Ở  bài trên, thay  vài từ ngữ của phương ngữ Nam Bộ và sửa  những lỗi chính tả về  dấu hỏi, ngã…  chúng ta sẽ có một  bài báo theo ngôn ngữ toàn dân hiện nay:
             “Có một người  Arabe lạc ở giữa đồng cát, đói khát đã hai ngày rồi, biết mình chẳng chóng thì chầy không (tránh) khỏi chết. Lúc đi qua gần một cái giếng, chợt thấy trên cát một cái bị nhỏ bằng da,  người đó vội vã lượm  cái bị ấy lên, tưởng là bị chà là. Lòng mừng lật đật mở ra. Mắt vừa nhìn thấy đồ trong ấy thì vùngkêu lên rằng: “Thảm thay! Toàn là những  ngọc mà thôi!”
          Văn dịch từ 130 năm trước của GĐB là thế đấy,  như  là ngôn ngữ  hiện nay!
Một điều trùng hợp đáng chú ý là chính chủ tịch Hồ Chí Minh khi bàn về cách viết  báo cũng từng nhiều lần nhấn mạnh rằng cần “viết thế nào cho phổ thông, dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc.” ( Hồ Chí Minh về vấn đề báo chí, tr. 191).

4. Dấu ấn  báo chí Nam Bộ

               Nhiều hiện tượng của phương ngữ Nam Bộ đã trở thành ngôn ngữ toàn dân, thậm chí đã đi vào tác phẩm văn học. Trong truyện Mẹ và con, nhà văn Hà Nội  Ma Văn Kháng cho một người  Hà Nội sau 1975 nói: ‘Chị mà dận săm-pô, quần loe, đánh phấn, tô mắt vào nữa thì… hết sảy!’ . “Hãy … rồi gọi điện thoại lên trung tâm xe buýt mắng vốn” “Bao nhiêu tiền làm ra đốt vào những xị đế.” (TT, 26/8/08). Những từ đặc Nam Bộ hết sảy, mắng vốn, xị đế đã trở thành những  từ toàn dân.
Về từ ngữ, đáng chú ý  nhất là GĐB dùng rất ít từ Hán –Việt. Có vậy giới bình dân Nam Bộ còn chưa thông thạo chữ quốc ngữ mới dễ đọc, dễ hiểu.
Về ngữ pháp và phong cách,  những câu viết trên báo cứ như là những lời kể chuyện thật tự nhiên. Không thấy những câu bị động.  Lúc đó văn viết (bút ngữ) trên báo rất gần với lời nói (khẩu ngữ).  Sự việc xảy ra thế nào  cứ  tuần tự  hiện ra trong ngôn ngữ như thế khiến câu tiếng Việt nhiều động từ, ít danh từ . Và  ít giới từ hơn hẳn so với các bản tiếng Pháp tương tự.
          Người  Nam Bộ trước đây rất sáng tạo khi nhập từ nước ngoài vào tiếng Việt.   Trong khi người  Bắc Bộ vay mượn chủ yếu theo  cách phiên âm thì người Nam Bộ thời xưa trong nhiều trường hợp đã nhận thức bản chất của sự kiện để sáng tạo ra những từ ngữ mới. Khi chiếc  xe đạp đưa vào Việt Nam, tất cả các bộ phận đều chưa có  từ để gọi, ấy thế là người miền Bắc phải mượn các từ tiếng Pháp frein,  enveloppe, chambre à air, garde-boue,… rồi phiên âm ra  tiếng Việt: phanh, lốp, săm, gác-đờ-bu (mãi sau mới chuyển thành cái chắn bùn)… Nhưng người  Nam Bộ không thế, đã dùng những từ có sẵn đặt tên cho chúng: thắng, vỏ, ruột, vè…
Báo chí Nam Bộ thời nay dẫn đầu khuynh hướng “Anh hóa” các từ vay mượn, kể cả nhiều từ vay mượn đã được phiên âm, như  album, solo,  show,  live show, stop, dancing…Trước đây  chúng ta đã từng phiên âm chúng: “-Anh ngồi đây, xem quyển an-bom này mà chờ tôi” (VTP, Số đỏ); “Vẫn múa, em tham gia hầu hết các điệu múa và nhiều tiết mục em chọn sôlô hoặc đuy-ô từng đoạn” (NDCN, 04/10/1990), “Bỗng Maika la lên: -Xì-tốp! Dừng, mình lại xem trên cây cầu này có chuyện gì mà con người bu đông như con kiến” (TT Cười, 6/1991) và
“Cái hồ ấy, khi đã thành đất phẳng,/Tôi sẽ xin dựng một trường “Cao đẳng đăng-xinh”. (Tú Mỡ, Giòng nước ngược)
Thậm chí  “Anh hóa” cả các từ vay mượn đã được Việt hóa: rất nhiều cửa hàng  ghi sale, on sale, sale off  chứ không ghi bán xôn, bán xon (PNNB, vay mượn từ tiếng Pháp solde).  Có báo  dùng “bị  shock” chứ không nói “(bị/gây) sốc” (mượn từ tiếng Pháp choc).

         5.          Tiếng Việt đang dài ra

Anh dân quân đánh vần chưa thạo chữ quốc ngữ  trong  Đôi mắt  của Nam Cao  đã nói thuộc lòng một bài 3 giai đoạn kháng chiến phòng ngự, cầm cự, tổng phản công … ‘dài đến năm trang giấy’. Những người này cứ nói ra ‘là thấy đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh cáo, thực dân, phát xít, phản động, xã hội  chủ nghĩa, dân chủ với cả tân dân chủ nữa…’ (trích  Đôi mắt, 1948).  Cách nay gần 65 năm đã xuất hiện trên cửa miệng người  dân bình thường  những khái niệm cao xa  mấy ai hiểu hết ý nghĩa này. Thời đó người dân tin theo Đảng nên đã nói đúng theo đường lối, theo chỉ thị, nghị quyết. Sáu bảy thập kỷ là khoảng  thời gian tạo ra  hai thế hệ, đủ dài để hình thành những thói quen ngôn từ  nói năng đúng  giáo điều mà không cần hiểu thấu đáo. Điều này dẫn tới hệ lụy là xã hội  hình thành  thói quen chấp nhận,  tư duy thụ động, không muốn lật lại nghĩa lý của từ ngữ, câu chữ,  khái niệm và lập luận  khi tiếp nhận  văn bản.  Vả lại, nếu ai đó có suy nghĩ độc lập, muốn phản biện, muốn bình luận  sẽ tạo ra những lời nghịch nhĩ và trở thành “người có vấn đề”.  Kết quả là người ta  lo nói năng  an toàn,  cầm giấy  phát biểu  theo những giáo điềudần dần hình thành thói quen  kết luận mà không chú ý tới lý lẽ thuyết phục.  Nhiều người nghèo đi về ngôn từ và tư duy, nhưng  vẫn cần thể hiện mình. Vậy là   sinh ra  lối nói sang trọng  với nhiều từ Hán-Việt nhưng lại không hiểu thấu đáo  và  những câu hùng hồn dài dòng rỗng nghĩa,  dư thừa. Một thói quen quan cách  nói những câu nghe rổn rảng nhưng dông dài chữ nghĩa, còn  nội dung rỗng tuếch, sẵn sàng lặp lại những điều đã biết,  đã từng nói.
Biến tướng của lối nói dư thừa là lối nói “chuẩn” nhưng không có trích dẫn, một tối kỵ với những người làm  khoa học. Trải qua nhiều cuộc học tập nghị quyết, rèn luyện lập trường quan điểm, nâng cao ý thức chính trị nên đã hình thành thói quen tư duy thụ động  và “nghệ thuật” nói năng  an toàn:  quan trọng nhất là phát biểu theo đúng quan điểm, đường lối mà không cần trích dẫn trực tiếp xuất xứ, hình thành thói quen phi khoa học là coi nhẹ việc nói có sách mách có chứng.    

6  Những bất biến: triết lý trong tiếng Việt  

Tiếng Việt thể hiện triết lý và cái hồn người Việt, qua lời nói thường ngày và qua kho tàng tục ngữ (TN) thành ngữ (ThN). Có những cách nói năng hiếm thấy ở những thứ tiếng khác và mới nghe thấy lạ, tưởng như mâu thuẫn, thiếu lô gích.
Có những dân tộc nào dùng từ nước  để chỉ lãnh thổ như  người Việt?  Nước Việt Nam  gắn với huyền sử Việt,  số con của bà Âu Cơ nửa lên núi,  nửa  xuống biển nên non nướcđất nước cũng là nước, là quốc gia.
Có những dân tộc nào dùng bụng và những bộ phận  của cái bụng  lòng, dạ, gan, ruột,…làm   biểu tượng cho phạm trù tinh thần,  biểu hiện tư duy, tâm lí, tình cảm, ý chí, sức chịu đựng?  Nghĩ bụng, ghi lòng tạc dạgan cóc tia, phổi bò, ruột để ngoài da…
Chúng ta dễ dàng giải thích được những cách nói tưởng như mâu thuẫn: Thành ngữ thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” phản ánh  triết lý người Việt lấy hai cực trỏ tổng thể. Toàn bộ câu chuyện được gói trong “đầu đuôi câu chuyện”. Nói “bán anh em xa, mua láng giềng gần” để nhấn mạnh phạm trù khoảng cách quan trọng hơn phạm trù họ hàng,  còn  “một giọt máu đào hơn ao nước lã” lại là phạm trù họ hàng quan trọng hơn phạm trù số lượng.
Chất vấn để bác bỏ thể hiện cách tư duy độc đáo  của người Việt. Có vậy chúng ta mới giải thích được vì sao “ớt nào chẳng cay?” là “ớt nào cũng cay”, “tôi nói điều đó bao giờ?” là “tôi chưa bao giờ  nói điều đó”, “sao không nói điều đó” là “lẽ ra nên nói điều đó”.
Có hàng loạt ẩn dụ, hoán dụ trong tiếng Việt cũng không thấy ở nhiều thứ tiếng khác.
Nhiều cách  nói có vẻ mâu thuẫn nhau chỉ là mâu thuẫn  hình thức. Về bản chất, chúng phản ánh những qui luật nào đó của tiếng Việt liên quan đến triết lý người Việt.

*
*        *

Thư gửi Ban biên tập Tia Sáng

                                                            Thph HCM, ngày 08.3.2012

Kính gửi Ban biên tập tạp chí Tia sáng
Trước hết, xin cảm ơn Ban biên tập đã dùng bài của tôi.

Sau đây tôi có vài lời về cách biên tập lại tiêu đề bài viết của tôi. Bài tôi gửi có tiêu đề “Tiếng  Việt theo dòng thời gian”. Tít này được Tia Sáng sửa lại là: "Nhìn lại một chặng đường phát triển chữ Quốc ngữ".

Sửa như vậy mắc hai lỗi cơ bản:

1)     Bài tôi viết về tiếng  Việt chứ không phải về chữ quốc ngữ. Không thể lẫn lộn hai khái niệm khác nhau này.
2)     Tít mà báo đặt, lặp  theo khuôn sáo đã mòn nghĩa của một báo cáo  tổng kết biểu dương thành tích Nhìn lại (một) chặng đường [X  năm] phát triển [của phong trào /của ngành /của xí nghiệp …Y].  Bài tôi viết mang đặc điểm của một tùy bút ngôn ngữ học với 3 điểm nhấn về thời gian: 
a) 130 năm trước, Trương Vĩnh Ký đã có công xây dựng một thứ ngôn ngữ báo chí rất đơn giản. 
b) Thời gian sẽ đào thải những quyết định trái quy  luật (về quy  luật chính tả i/y). 
c)  Dùng luôn ví dụ từ Đôi mắt của Nam Cao như là một ẩn dụ: Thời gian đã làm nhiều người Việt tư duy, nói năng theo đúng giáo điều (để tồn tại?) nhưng lại dông dài, vô nghĩa và nhất là  mất cái nhìn  phản biện. Chính vì vậy tôi mới đặt tít:  Tiếng  Việt theo dòng thời gian
 Tôi có đôi lời như vậy và mong Ban biên tập quý báo rút kinh nghiệm.

                                                                        GS TS Nguyễn Đức Dân  


[i] ) Bài này đã đăng trên tạp chí Tia Sáng, ngày 05.3. 2012, với tít được sửa lại là: Nhìn lại một chặng đường phát triển chữ Quốc ngữ. Tôi thấy cần có đôi lời về tít này, nên ngày 08.3 đã viết một thư tới Tòa soạn Tia Sáng. Thư kèm vào cuối bài này. NĐD

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2013

NGÔN NGỮ của ẨN DỤ



(Kỷ niệm Thầy DÂN và Lớp G - Hà Nội - 12/11/2008)


KHÔNG GIAN TIẾNG VIỆT

BÁO ĐIỆN TỬ SÀI GÒN TIẾP THỊ MEDIA - Ngày 09.01.2013


Thời gian nhìn từ những ẩn dụ

SGTT.VN - Không ít người nghĩ rằng, ẩn dụ chỉ xuất hiện trong thơ văn. Sáng tạo ẩn dụ là phẩm chất đặc biệt của giới văn chương. Thực ra, như chứng minh của hai nhà ngôn ngữ học G. Lakoff và M. Johnson (1980), ẩn dụ có trong ngôn ngữ đời thường.

Ẩn dụ quanh ta
Mặt trời được Viễn Phương trong Viếng lăng Bác dùng làm ẩn dụ chỉ Bác Hồ: “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng/ Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”.
Nguyễn Khoa Điềm lại dùng mặt trời làm ẩn dụ cho Cu Tai, đứa con bé nhỏ của người mẹ lên nương: “Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng”.
Với Trần Tiến, mặt trời bé con là ẩn dụ chỉ những cô bé, chú bé đáng yêu say mê ca nhạc: “Ngoài kia có cô bé nhìn qua khe nghe tiếng đàn của tôi/ Ngoài kia có chú bé trèo cây me, mắt xoe tròn lắng nghe”.
Ngày ngày chúng ta dùng ẩn dụ và ai cũng dùng ẩn dụ, những ẩn dụ tri nhận (cognitive metaphor). Những ẩn dụ đã thấm vào mỗi người đến mức chúng ta dùng ẩn dụ mà không biết.
Cô lái đò của Nguyễn Bính tính đã ba mùa xuân đến: “Xuân này đến nữa đã ba xuân/Đóm lửa tình duyên tắt nguội dần”. Ai cũng đã từng nói những câu như “Năm cũ sắp qua, năm mới sắp tới”, “tết đến, xuân về, nhà nhà chuẩn bị đón xuân sang”, hoặc “Xuân sang, hạ tới, thu qua, đông lại”. Và “Thời giờ thấm thoắt thoi đưa/ Nó đi, đi mãi có chờ ai đâu”, “Giờ hành động đã đến”. Bởi chúng ta đã nhận thức một ẩn dụ: thời gian thì chuyển động.

Xuân sang và sang xuân

Nhiều hiện tượng được giải thích từ những ẩn dụ khác nhau.
Có những cách nói ngược nhau nhưng lại đồng nghĩa: xuân sang và sang xuân, tuần sau và tuần tới, tuần trước và tuần qua… Ở mỗi cặp trên, vế đầu dùng theo ẩn dụ thời gian thì chuyển động còn vế sau lại là ẩn dụ chúng ta chuyển động trong thời gian. Điều này còn thấy trong những cách nói “Ta đi tới” (thơ Tố Hữu), “Chúng ta đã bước vào thiên niên kỷ mới”, “Vàomùa khô”, “sắp sang xuân”, “đến tết”, “ra giêng”… Ngày tháng tăng dần, nghĩa là thời gian đến chúng ta từ phía trước. Tuần lễ đến trước rồi sẽ thành quá khứ và được gọi là tuần trước, tuần lễ đến sau gọi là tuần sau đang còn ở tương lai. Còn như chúng ta chuyển động trong thời gian thì tuần lễ chúng ta đã đi qua (chỉ quá khứ) là tuần qua. Tuần lễ chúng ta sẽ đi tới, tuần tới, cũng trỏ thời tương lai, đồng nghĩa với tuần sau. Những đơn vị trỏ thời gian khác như giờ, ngày, tháng, quý, năm… kết hợp với trước, qua tạo ra những thời đoạn trong quá khứ, kết hợp với sau, tới tạo ra những thời đoạn trong tương lai.

Trong tiếng Việt có hiện tượng rất thú vị là các từ ngữ không gian chuyển thành các từ ngữ thời gian. Các từ trước, đây, sau trỏ quan hệ vị trí trong không gian cũng lần lượt được dùng để miêu tả thời gian xảy ra trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Không những vậy, chúng thành những mốc cho trục thời gian trước – đây – sau. Chúng có thể dùng làm điểm nhìn khi nói. Trong câu “Trước đấy ông là thần tượng của tôi. Nhưng một ngày nọ tình cờ tôi phát hiện ông chỉ là kẻ đạo đức giả. Sau này quan hệ giữa chúng tôi nhạt hẳn đi”, các từ trước đấy, ngày nọ, sau này… đều chỉ các hiện tượng xảy ra trong quá khứ vì người nói đã kéo thời gian về các điểm lấy làm điểm nhìn đấy, nọ, này

Thời gian là một đối tượng chuyển động nên có đầu có cuối: đầu tuần, đầu năm, đầu giờ, cuối buổi… “tới đầu tháng 7 năm sau mới tăng lương”. Đặt trong một phát ngôn thể hiện những hành vi cụ thể, những tổ hợp trên sẽ tạo ra ý nghĩa thời gian cụ thể. Khi nghe “Cuối buổi sáng nay, mời ông quay lại đây”, “Đầu giờ chiều nay, mời ông quay lại đây”… việc được đề nghị, yêu cầu, hay mời làm chưa xảy ra nên “cuối buổi sáng nay”, “đầu giờ chiều nay” đều chỉ thời gian trong tương lai.

Sao lại là năm ngoái?

Hết một năm hay sắp sang năm mới, người Việt có thói quen điểm lại, tổng kết những sự việc được mất, may rủi trong trong chặng đường đời một năm. Đó là lúc người ta ngoái nhìn lại, từ đầu năm tới cuối năm. Vậy là hình thành cách nói năm ngoái, tức là năm qua. Năm là đơn vị thời gian duy nhất trong cuộc đời không dài quá nhưng cũng không ngắn quá mà người ta ngoái nhìn lại.

Ngày, tuần, tháng thì quá ngắn nên không có cách nói tháng ngoái, tuần ngoái, ngày ngoái. Còn thế kỷ thì quá dài, mấy ai đi qua mốc trăm năm, nên cũng không có thế kỷ ngoái.

Người Việt lưỡng phân ngày/đêm. Ngày được chia thành những thời đoạn sáng, sớm, trưa, chiều, tối. Tên chung cho những đơn vị này, tức “loại từ” thời gian, là buổi (trỏ thời gian lao động, làm hay học), bữa (thời gian ăn) và banbuổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối; bữa sáng, bữa trưa, bữa chiều, bữa tối. Tôi không rõ gốc gác của ban là gì trong những cách nói ban sáng, ban trưa, ban chiều, ban tối, ban đêm.

Người Việt phân biệt nhiều trạng thái thời gian quá khứ hơn là trạng thái thời gian hiện tại và tương lai.

Chúng ta có những mười từ ấy, nãy, đó, nọ, kia, qua, trước, rồi, ngoái, xưa trong những kết hợp thể hiện thời gian quá khứ. Nhưng dùng trong những kết hợp chỉ thời hiện tại (và duy nhất giờ đây) chỉ có hai từ này, nay. Trỏ tương lai có sau, tới vànữa (và duy nhất có phân biệt ba ngày trong tương lai mai, mốt, kia). Có thể nguyên do là những điều đã biết, đã xảy ra thì dễ thấy hơn và do vậy dễ phân biệt hơn những điều dự đoán.

GS.TS NGUYỄN ĐỨC DÂN


(Vĩnh Thuận sưu tầm 12/01/2013)

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

Gặp mặt ở 19C Hoàng Diệu 9-2008

BBT- Phóng viên Lương Phúc gửi cho BBT bức ảnh ghi lại thời khắc chưa bàn giao khu Hoàng Thành về TP Hà Nội, khi đó vẫn còn Sân bóng đá Cột cờ, CLB bia quân đội và Quán bia 19C Hoàng Diệu.

Email của Lương Phúc viết:


Bức ảnh gửi kèm là ngày 17/9/2008, Đ.Thắng sang HN, mời mọi người đén quán bia bên canh Cột Cờ. Trong ảnh: sau lưng là SVĐ Cột Cờ, xa nữa là Lầu Công chúa – khu Hoàng thành Thăng Long, khi đó QĐ chưa giao trả T.p HN. Một cháu lễ tân đứng bên cạnh.
L.P

Xin đăng lên Blog Xuân Đỉnh để các bạn nhớ lại ngày đó:



(BBT- 7/1/2013)

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2013

THĂM NHÀ MỚI ANH HỮU QUỲ



Anh Phạm Hữu Quỳ về ở nhà mới gần Hồ Tây đã lâu, nhân dịp cuối năm 2012 anh Quỳ có nhã ý mời lớp G đến thăm nhà trên đường Lạc Long Quân và bàn về Hội Lớp G sắp tới.

Ngày 26-12-2012, anh Hữu Quỳ gửi tin nhắn đến các bạn Lớp G:

"Moi ban toi nha Quy hop ban ve to chuc Hoi lop G Xuan Quy Ty sap toi. 
Thoi gian tu 10g sang thu bay 29-12. 
Đia điem: so 21 ngo 343 Lac Long Quan (cach Cho Buoi khoang 600m). 
Xin ban hoi am lai neu ko den duoc!"

Đến ngày thứ bảy 29-12 đã có 10 bạn tới nhà anh Quỳ. Chị Liên Hương không đến được, đã gửi chị Thúy Hạnh cầm Thiếp hồng đến mời mọi người dự Lễ cưới con trai vào ngày Chủ nhật 6-1-2013.



Hôm qua 4-1-2013 anh Lương Phúc gửi vài ảnh chụp và email đến BBT:

"Gửi BBT một số ảnh họp ở nhà Quỳ. Hôm đó có 11 người: Quỳ, Phúc, Khôi, Bá, M.Thắng, Hạnh, Lân, Tân, Tường, Phú, Điều đã thống nhất được mỗi việc sẽ hội lớp vào Thứ Bẩy 2/3/2013, nhằm 21 âm lịch, địa điểm chưa quyết định. Đã có ý kiến vui là đến nhà Khôi - vừa hội vừa thưởng thức Toilet siêu hiện đại, thông minh của Japan!".

BBT đăng các tin nhắn, email và các ảnh về buổi gặp mặt vui vẻ này (xin bấm vào giữa ảnh để coi ảnh kích thước to và rõ nét).





XUÂN ĐỈNH MỘT THỜI DỄ ĐÂU QUÊN

Con người ta khi tuổi đã xế chiều thường nhớ về kỷ niệm xưa, càng xưa càng ngấm. Thuở Toán G – Xuân Đỉnh, cái thuở thanh xuân chuẩn bị bước vào đời của chúng tôi, mỗi khi chợt nhớ, lại càng khắc khoải đậm nét như tưởng chừng mới hôm qua. Xin gửi tới Toán G – Xuân Đỉnh 66-68 những người bạn thuở thanh xuân những trang ký ức, tâm sự hoài niệm của tôi như lời cám ơn Tổ ấm “Gấu Mẹ” đã góp phần xây dựng nhân cách, rèn giũa tôi những bước đầu đời. Những mẩu đời sau đây như những thước phim cũ để lâu tái hiện lại, đoạn nào tốt hơn dễ phục chế làm trước, đoạn xấu khó làm sau, không theo trình tự thời gian, xin thông cảm.

Trước tiên xin gửi tới các bạn 2 bài viết vào thời điểm 30 NĂM TOÁN G XUÂN ĐỈNH  - 1996dưới đây. 




HỘI G - TUỔI 30

          Xuân Đỉnh thân yêu, Xuân Đỉnh ơi!
Ta đã về đây giữa lòng người,
Cứ ngỡ hôm nay ngày mở lớp,
Mới đấy đã ba chục năm rồi!
          Ta lại chào nhau ở sân trường,
          Nào thày, nào bạn ... những yêu thương,
          Thuở ấy - đầu xanh tràn nhựa sống,
          Hội nay - từng trải tóc điểm sương.
Vẫn nghịch, tếu vui tựa thuở nào,
Kỷ niệm chợt ùa đến - xôn xao ...
Hỡi những đứa con G xa vắng,
Hướng lòng về Tổ một chút nào.
          Xin nhớ hôm nay lại những ngày:
          Bàn trên, hào dưới tránh máy bay,
          Mênh mang nắng gió tình sơ tán,
          Mũ rơm, cơm đói học vẫn say...
           Xa lắm những gì chẳng thể quên:
           Điệu múa “Đầm Sen”, kịch “Đêm Đen”.
           Đắp ụ phòng không, cứu bom Phú Xá,
           Lớp lớp tiến lên tuổi Đoàn viên...
          Đào giếng, đá bóng, đánh mái tranh,
          Đèn dầu càng nảy cách chứng minh,
          Mương sâu khó cản người quyết vượt,
          Sáng sáng rộn ràng chạy bình minh...
Xuân Đỉnh thân yêu, Xuân Đỉnh ơi!
           Ngót ngàn ngày ấy - một quãng đời,
           Đẹp biết bao nhiêu tình thày, bạn
           Rèn luyện cho ta biết làm người.
                   Xuân Đỉnh – Đỉnh Xuân của Toán G!
                   Kỷ niệm thân thương chẳng phai mờ,
                   Những cánh chim bay ngày họp Tổ
                   Lại về,
                             Lại nhớ,
                                      Lại tỉnh  - mơ...
                     Kỷ niệm Hội Lớp G - 30 năm, 04/03/1996 – 14 tháng Giêng năm Bính Tý

(Tác giả Lương Phúc và Hữu Quỳ trong Lễ kỷ niệm 50 năm THPT Xuân Đỉnh - 13/11/2010)


TRỞ LẠI CỘI NGUỒN
                                                                                       Ngẫu bút của LHD
Sáng đầu xuân se lạnh (14 Tháng Giêng Bính Tý – 04/03/1996). Thời tiết như chiều người, cả tuần trời u ám, mưa xuân ướt át, để rồi hửng nắng.
Con đường quen cũ hiện dần trở lại trước mắt chúng tôi – Ba chàng ngự lâm pháo thủ (Phúc – Tân – Điều). Nó vẫn như xưa, ngoại trừ tấm áo phủ trên: nhựa đường thay cho đất đá nhão nhoét khi trời mưa, nhưng không dấu được dáng hình với những ổ gà lồi lõm. Ngoại trừ một điều nữa – phông nền ngoại cảnh: những tòa nhà hai, ba tầng, ngõ ngang xẻ dày hai bên... xóa dần màu xanh của đồng lúa năm xưa. Người về vẫn cũ, nhưng (lại nhưng!) cũng có vỏ bọc mới – phong trần, dày dạn, tóc điểm sương và điều đặc biệt là phương tiện giao thông: chiếc “ca nô chân” ngày xưa chạy bằng sức lực cơ bắp tuy có dẻo dai đầy nhựa trẻ đã được thay thế bằng những con Dream, Cub95... tỏa khói tân kỳ - như những con tàu tốc độ vượt ánh sáng, ngược dòng thời gian trở về quá khứ. Đường trải ngược đến đâu, dòng thời gian trôi lùi đến đó. Dần dần ngoại cảnh không còn chi phối chúng tôi, duy nhất chỉ còn một đích cuối cùng, sâu hun hút trên trục âm của thời gian – Mái Trường Xuân Đỉnh.
Thời điểm bùng nổ - con tàu vượt qua hàng rào ánh sáng – mọi kỷ niệm chợt ào đến, xôn xao, dồn dịch, lắp ghép lại hình ảnh thuở nào.
 Chúng tôi có cảm giác như vừa sau kỳ nghỉ hè trở lại, người và cảnh đều thay đổi dẫu rằng nồng độ quá cao. Vẫn đó: thày, cô, bè bạn – những khuôn mặt thân quen (và cả bóng hình từng thầm yêu thương, trộm nhớ) – và đặc biệt là giọng nói, cho dù mắt nhắm, “Đêm đen” chắc cũng không thể nào lẫn được. Chợt thấy mình như nhỏ bé giữa cảnh quan hoành tráng của ngôi trường – những dãy nhà cao tầng lộng lẫy, những hàng cây “em nuôi” nay vượt lên trùm mái xanh che mát cả sân trường, hát rì rào trong nắng gió xuân...
Chúng tôi gặp lại những thày giáo cũ của mình: thày Hải - chủ nhiệm học kỳ I/lớp 9G, thày Định - chủ nhiệm học kỳ II/lớp 9G và 10G, thày Tạo – dạy Hóa, thày Chinh – dạy Nga văn, thày Thu – dạy Thể dục...trong niềm xúc động bâng khuâng, dào dạt. Hình ảnh người thày giáo trong chúng tôi – không phải là chiếc đò ngang như nhiều người thường nói, mà chính là những nhịp cầu đưa lớp lớp học sinh thân yêu vượt qua những dòng sông tri thức. Những “nhịp cầu nối những bờ vui” tri thức đó với nhiều thế hệ - trong đó có các bạn của tôi nối tiếp nhau đi qua – sẽ mãi mãi trường tồn cùng lịch sử và tinh hoa văn hóa nhân loại. Biết bao chân trời mới được mở ra, biết bao mạch tri thức, ý tưởng của chúng tôi được khai thông, đánh thức trong sự chỉ bảo, dìu dắt, giáo dục, rèn luyện của những Người Thày (với đúng nghĩa viết HOA).
Chúng tôi lại túm tụm từng nhóm kéo nhau đi thăm lại cảnh trường, hồi tưởng kỷ niệm, ríu rít, ríu rít như những đàn chim thuở nào. Bên cạnh đó là một vài dè dặt, bỡ ngỡ ban đầu của những nàng dâu, chàng rể “mới” lần đầu hòa nhập với cộng đồng lớp G – điều dĩ nhiên của người hiện tại chưa một lần biết về quá khứ!
Chúng tôi lại vào lớp, lại tự ổn định chỗ ngồi, lại bị chấn chỉnh trật tự để rồi lại bị lớp trưởng điểm danh và lại được thưa thày... Ôi, những cái “lại”, “bị”, “được” ấy không phải lúc nào muốn mua cũng được, dù chúng ta đang đắm mình giữa thời buổi kinh tế thị trường này. Lại thêm 5, 6 bạn đến muộn - như ngày xưa thường bị nhỡ tàu điện hay ngủ quên ấy mà. Chỉ có hai điều khác: một - trong lớp có các thày chủ nhiệm, thày bộ môn và cả thày hiệu phó đương kim, và hai - nội dung không phải buổi học, mà là Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Lớp Chuyên Toán Xuân Đỉnh của Hà Nội. Dẫu hiện tại bạn là ai - Tiến sĩ, Phó tiến sĩ, Kỹ sư, Bác sĩ, Sĩ quan quân đội, Cán bộ hay dân thường ... gì đi nữa, thì tại thời điểm này hãy lùi về quá khứ 30 năm - tháng 2 năm 1966, bạn và tôi đồng môn, đồng cảnh, đồng sàng, cùng là Học sinh - Tuổi trẻ - Vô tư - Hy vọng dạt dào!

30 năm G Xuân Đỉnh (1966-1996)

Ba mươi sáu cánh chim đã về họp Tổ. Những đứa con xa vắng còn lại của “Gấu Mẹ vĩ đại” - hiện ở đâu trong tám phương trời - chắc cũng đang căn giờ hướng về dự vọng.
       ... Hát, Thơ,
 Tâm sự, Kể chuyện,
Mạn đàm ... trên nền tiệc mặn ...
            Cám ơn tất cả các thày, các bạn. Cám ơn Ban tổ chức Lễ hội 30 năm Toán G đã cho chúng ta một buổi trở về cội nguồn vui vẻ, cảm động, bâng khuâng, lâng lâng đầy sự tươi trẻ, trong sáng Xuân hôm nay.
            Cái gì phải đến, sẽ đến. Vẫn biết “Cuộc vui ngày chẳng tày gang”! Chúng tôi lại chia tay, như bao lần tạm chia tay thuở ấy. Một vài nhóm còn tiếp tục dắt díu nhau đi đặng cố níu lại chút tình cảm tinh khiết, trinh trắng, mộc mạc của quá khứ năm xưa như cụ Nguyễn Du hằng mô tả “Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”.
            Tạm biệt Quá khứ với sự tỉnh say, ước mơ, nghĩ suy trong sáng.
            Tạm biệt Lễ kỷ niệm 30 năm thuở Toán G. Chúng tôi lại theo dòng thời gian vượt nhanh về hiện tại, để lại tiếp tục hòa mình với cuộc sống đời thường, thực tế, bon chen, lại gặp những toan tính lỗ lãi, ích kỷ...
            Xin hẹn nhau một ngày này 10 năm, 20 năm ... nữa, trước khi trở thành cát bụi, sẽ hội họp tại nơi này để nghĩ suy, nghiền ngẫm cho tâm hồn thanh thản, lắng đọng lại tình người ... Vì con người ta luôn hướng về gốc - “Nhân chi sơ tính bản thiện” mà.
                                                                        Ngọc Khánh, ngày 19/05/1996
                                                Viết lại lúc 05h30’ ngay sau một giấc mơ hồi tưởng.
TB: Đúng 2 tháng rưỡi sau Lễ hội 30 năm Toán G, tự dưng P nằm mơ nhớ lại như in buổi đó. Mở choàng mắt tỉnh dậy, đầy cảm xúc, viết liền một mạch xong bài này, đã có bản in trên máy tính ngày ấy. Hai lần chuyển nhà không để ý, hôm nay tình cờ tìm thấy liền nhập bài lại - hầu như không sửa gì, để gửi các bạn xem. Chẳng rõ Tân và Điều hôm đó rủ nhau cùng vào Xuân Đỉnh với P có còn nhớ không?


(Sân trường ngày Kỷ niệm 50 năm Trường cấp 3 Xuân Đỉnh - 13/11/2010)

Vĩ thanh: 
           Hôm nay đã là 5-1-2013, P không khai bút sớm để cho các bạn ngắm kỹ hoa Hồng do Thuận đưa lên. Nếu là ngày âm đã xấu, nhằm năm Nhâm Thìn, tháng Nhâm Tý, ngày Tân Mùi, đành chon giờ  Quý Tỵ - hoàng đạo vậy. Đầu năm lẽ ra nói chuyện mới, nhưng thay bằng chuyện cũ của đầu năm cũ để hoài cổ, theo tinh thần của chủ đề, mong các bạn hiểu cho.
                                      Hà Nội, 09g36' ngày 05 tháng 1 năm 2013, L.Phúc. 

-------------------------------
(BBT- ảnh minh họa do BBT đưa vào bài. Cám ơn cựu Đại tá Lương Phúc đã cho đăng hồi ức về Xuân Đỉnh và Lớp G).

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

NƯỚC NAM TA CÓ VIỆN HÀN LÂM


Tin vui đâu đến ngỡ ngàng
Nước Nam ta đã có hàng hàn lâm
Cuối năm 2012 Chính phủ có Nghị định 108 và 109 về Viện Hàn Lâm Khoa Học & Công Nghệ VN và Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội VN.

Thực sự là mừng, quả thực là rất vui mừng, nước Việt ta đã ngang hàng ngũ đại ca Nga Anh Pháp Mỹ Đức về hàn lâm khoa học. Mừng quá là mừng. Chỉ tiếc là cái thân già cựu SV trường Tổng hợp này đã hưu hắt rồi, chẳng có dịp lần sờ chống gậy vô cổng Viện Hàn Lâm được nữa. May chăng có các giáo sư Cao, Nhung, Ân, Tài, Lân, Điều, Phú, Lương... của Lớp G Xuân Đỉnh chúng ta đem về cho Lớp niềm vinh dự này.
Ngày 25/12/2012, TTg Ng. Tấn Dũng đã ký Nghị định 108/2012/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, thay thế cho Nghị định số 62/2008/NĐ-CP ngày 12/5/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Theo đó, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ; cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý khoa học, công nghệ và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội; đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao theo quy định của pháp luật.
Về cơ cấu tổ chức, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có 38 đơn vị. Viện có Chủ tịch và không quá 4 Phó Chủ tịch. Chủ tịch Viện do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm, chịu trách nhiệm trước Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về toàn bộ hoạt động của Viện.
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/2/2013.
Xem toàn văn Nghị định tại đây:

Ngày 26/12/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định 109/2012/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
 Xem toàn văn Nghị định tại đây:
 

Xin xem thêm bài liên quan:

http://phamvietdao3.blogspot.com/2012/12/danh-hieu-vien-si-vien-han-lam-phap-cua.html

--------------------------------
(Vĩnh Thuận sưu tầm – 5/01/2013 - theo Tạp chí Tia sáng : http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=109&CategoryID=4&News=6030 )