Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2012

ẢNH 3D PHỐ CỔ HÀ NỘI


THỨ BA, NGÀY 06 THÁNG MƯỜI MỘT NĂM 2012


Phố cổ Hà Nội đỏm dáng nhờ 3D

Chợ Đồng Xuân
Bongbvth - Lâu nay, những hình ảnh về phố cổ Hà Nội chỉ được lưu giữ từ nhiều nguồn tư liệu phim ảnh, những miêu tả văn bản, báo chí, công trình nghiên cứu cổ học…
Công nghệ thời hiện đại cùng với sự sáng tạo của những người đam mê đã giúp cho con người làm sống lại với màu sắc, khung cảnh, đường nét sinh động của các di vật, tranh ảnh thời cổ xưa.
Dưới đây là những tác phẩm đồ hoạ của Dự án “Phục dựng phố cổ Hà Nội bằng 3D" do Nhóm 3D Hà Nội thực hiện.
Dựa trên các công nghệ hiện đại, nhóm thực hiện dự án đã có sự khảo cứu nghiêm túc các tư liệu lịch sử về Hà Nội để có thể tái hiện một cách chân thực và sinh động nhất không gian văn hoá của thủ đô cách đây 1 thế kỷ.
Mời các hàng xóm làng Mạng cùng xem:




NHÀ HÁT LỚN HÀ NỘI



GÁNH CỐM RONG



KHUÊ VĂN CÁC



PHỞ GÁNH



TẾT TRUNG THU Ở KHU PHỐ CỔ



GÁNH HOA SEN



KHU PHỐ CỔ ĐÓN TẾT



PHỐ HÀNG BUỒM



PHỐ HÀNG BẠC



VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM



Ô QUAN CHƯỞNG



CHỢ ĐỒNG XUÂN
(M.T - sưu tầm)

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

ĐÔNG ANH hiếu học


(Chùa Sái ở xã Thụy Lâm - Đông Anh)

Tia Sáng -- 01:47-06/11/2012 

Dấu ấn nền cựu học trên đất Đông Anh

Vũ Thị Như Quỳnh


Chùa Cổ Loa (Bảo Sơn Tự), một di tích nổi tiếng
ở Đông Anh.
Trong quá khứ, Đông Anh nổi tiếng có nhiều người thi đỗ tiến sĩ. Ngày nay, vùng đất này vẫn giữ được truyền thống thờ cúng các bậc tiên hiền hay tục tạ ơn, trả lễ thầy dạy.

Nho giáo vốn không phải tư tưởng được người Việt sáng tạo ra mà được truyền bá vào nước ta từ thời Bắc thuộc, qua những người quan lại của chính quyền đô hộ. Tuy nhiên, từ khi bắt đầu xuất hiện ở nước ta cho tới ngày nay, Nho giáo đã trở thành một phần diện mạo văn hóa Việt, có ảnh hưởng lớn đến những thành tố văn hóa khác. Khi vào Việt Nam, tư tưởng Nho giáo đã chung sống hài hòa với những tư tưởng bản địa cũng như yếu tố ngoại lai khác để trở thành một nét văn hóa mang bản sắc của người Việt Nam. Như nhận xét của Gs Trần Đình Hượu “Ta bắt gặp trong thực tế một thứ Nho giáo không thuần nhất, đã luôn luôn dung hợp với tư tưởng Âm Dương, Phật, Đạo, lại kết hợp với tín ngưỡng, tập quán, tư tưởng địa phương…” [6, 84]. Thực tế cho thấy, Nho giáo và truyền thống học hành, thi cử theo tư tưởng Nho giáo đã lưu dấu ấn sâu đậm trong đời sống người Việt xưa, được ghi lại nhiều trong ca dao, tục ngữ:

Canh một dọn cửa dọn nhà
Canh hai dệt cửi canh ba đi nằm.
Bước sang cái trống canh năm,
Trình anh dậy học còn nằm làm chi
Nữa mai chúa mở khoa thi,
Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh.
Bõ công cha mẹ sắm sanh,
Sắm nghiên sắm bút cho anh học hành.
  (Ca dao)


Với vị trí ngoại vi của thành Thăng Long, trung tâm giáo dục thời phong kiến, Đông Anh có nhiều điều kiện để phát triển nền học vấn Nho giáo và thực tế đã đạt nhiều thành tựu rực rỡ.

Sách Đông Anh với nghìn năm Thăng Long – Hà Nội trang 126-127 đã có thống kê rất cụ thể và chi tiết về số lượng người thi đỗ đạt ở huyện Đông Anh qua các thời kỳ cũng như đặt những con số này trong mối tương quan với kinh đô Thăng Long. 

Theo sách này, Đông Anh là huyện có tổng số người thi đỗ tiến sĩ nhiều thứ hai trong tổng số 29 quận, huyện của Hà Nội - theo quy hoạch đến năm 2012, với tổng số 56 người đỗ đại khoa trong đó có ba Thám hoa, 13 Hoàng giáp, 39 Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân và 1 Phó bảng. Đứng đầu danh sách này là huyện Thường Tín với 64 người. 

Đông Anh cũng là một trong tám quận, huyện có trên 35 người đỗ tiến sĩ. Theo thống kê này, số người đỗ đại khoa ở Đông Anh chiếm 8,41% số người đỗ đại khoa của cả Thăng Long – Hà Nội, đứng sau huyện Từ Liêm với 9,61%. 

Nền cựu học ở Đông Anh không chỉ đạt nhiều thành tựu mà tri thức của nền học vấn này đã đi vào đời sống của người Đông Anh, một cách tự nhiên qua quá trình lịch sử lâu dài. Ngày nay còn có thể thấy dấu ấn của những tri thức ấy qua những tục lệ cổ truyền, truyền thống thờ cúng các bậc tiên hiền.

Theo sách địa chí Cổ Loa, người dân ở đây còn có tục ăn tết mùng 10 tháng 10 - ngày lễ thầy hàng năm của nhân dân Cổ Loa. Ngày này, nhiều gia đình làm bánh dày, bánh hình tròn, nhân đường, to nhỏ khác nhau, để tạ ơn thầy dạy, trả lễ thầy.

Một biểu hiện khác của tinh thần hiếu học ở người Đông Anh là người dân nơi đây thờ cúng các danh nhân có công trong việc tạo dựng và phát triển nền học vấn Nho giáo, có thành tích cao trong thi cử hoặc có công lớn với đất nước.

Dục Tú là một thôn lớn ở Đông Anh, quê hương của ông đầu xứ Ngô Tất Tố và Nguyễn Huy Tưởng, hai nhà văn cách mạng đương đại. Tại đình Dục Tú có đến thờ Sĩ Nhiếp - công trình kiến trúc đã được xếp hạng Di tích quốc gia năm 1995. Công trình này cũng rất gần với chùa Dâu - Bắc Ninh, một trong những nơi thờ Sĩ Nhiếp nổi tiếng cả nước. Sĩ Nhiếp - người giữ chức Thái Thú Giao Châu, người đầu tiên truyền bá Nho giáo và đặt những viên gạch đầu tiên cho nền cựu học ở Việt Nam. Công lao của ông được nhân dân ghi nhận. Theo Thần phả đình làng, có lần qua đất Dục Tú, Sĩ Nhiếp đã dừng chân nghỉ ngơi, vịnh thơ ca ngợi cảnh đẹp nơi đây. Sau khi ông mất, dân làng đã lập đền thờ nơi ông dừng chân năm xưa và suy tôn ông là Thành Hoàng làng. Hàng năm, vào ngày 12 tháng 2 (âm lịch), dân làng lại tổ chức lễ hội với nghi thức tế, lễ để tưởng nhớ công lao của ông.

Đình Lại Đà ở xã Đông Hội thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền. Ông là vị Trạng nguyên đầu tiên và nhỏ tuổi nhất trong lịch sử khoa bảng Nho giáo ở Việt Nam. Nguyễn Hiền quê ở Nam Định, lúc nhỏ khôi ngô, tuấn tú, học giỏi. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1247, khi nhà Trần tổ chức kỳ thi Thái học sinh, lần đầu tiên đặt ra ngôi bậc Tam giáp gồm Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Nguyễn Hiền đã đạt danh hiệu Trạng nguyên, lúc ấy ông 12 tuổi. Tương truyền, ông đã đối đáp với sứ Trung Quốc và đã chứng tỏ cho người phương Bắc thấy nước Nam có nhân tài, khiến họ phải nể phục. Khi làm quan, Nguyễn Hiền cũng có nhiều đóng góp cho nhà Trần. Sau khi ông mất, triều đình phong ông là Nguyễn Đại vương Thành hoàng và tôn làm thần. Lại Đà thôn là một trong 32 nơi lập đền phụng thờ ôngI

Đền thờ Hoàng Giáp Lê Tuấn Mậu: Cụm Di tích lịch sử Đền Sái - Đình Thụy Lôi - Đền Thờ Tiến sỹ Lê Tuấn Mậu đã được công nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1986. Ông làm quan ngót bốn chục năm, từng được trao chức Đô Ngự Sử, về sau được thăng dần đến chức Lễ Bộ Thượng Thư. Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, vì quyết không chịu khuất phục, ông bị Mạc Đăng Dung giết. Các triều đình phong kiến Việt Nam phong nhiều sắc phong ghi nhận công đức của ông, qua quá trình lịch sử đã bị thất lạc nay chỉ còn lại 10 chiếc được lưu giữ tại Gia tộc họ Lê Tuấn ở Thụy Lôi - Thụy Lâm - Đông Anh - Hà Nội.

Nhà thờ tiến sĩ Đỗ Túc Khang: Nhà thờ họ Đỗ Đại tôn thôn Giao Tác đã được Bộ Văn hoá công nhận là di tích Lịch sử - Văn hoá năm 1990. Đây là nơi thờ cúng của một dòng họ lớn từ Bồng Sơn Thanh Hoá ra, đến đời thứ ba là ông Đỗ Hoan lấy hai bà vợ, bà cả là Phạm Quý Thị, bà hai là người họ Vũ, cả hai bà đã sinh được năm người con trai thì bốn người đỗ Đại khoa, trong đó có tiến sĩ Nguyễn Túc Khang.

Việc dùng chữ Hán và phát âm theo giọng Hán-Việt khiến cho tinh thần hiếu học ở Đông Anh có điều kiện vật chất trở thành một trong những truyền thống tốt đẹp mà người xưa đã tạo dựng và gìn giữ đến ngày nay cho con cháu. Chúng ta đã thật khôn ngoan khi mượn chữ Hán để làm chữ viết nhưng lại đọc theo cách riêng của Việt Nam gọi là giọng Hán Việt còn lưu giữ đến tận ngày nay trên những hoành phi, câu đối trong các công trình tín ngưỡng ở Đông Anh.

Ngày hôm nay, dạo bước trên mảnh đất này, ngắm nhìn những di tích lịch sử hay miếu mạo chùa chiền, tất cả đều gợi cho ta nhớ một thời vàng son của nền cựu học, một truyền thống mà những thế hệ sau được kế thừa với niềm tự hào về những người đi trước vừa dũng cảm, vừa tài hoa, như một ý thơ quen thuộc“lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa”…

TƯ LIỆU THAM KHẢO

1.    Bùi Xuân Đính, Các làng khoa bảng Thăng Long - Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia, 2004.

2.    Bùi Xuân Đính, Đông Anh với nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, NXB Hà Nội, 2010.

3.    Bùi Xuân Đính, Giáo dục và khoa cử Nho học Thăng Long - Hà Nội, NXB Hà Nội, 2010.

4.    Nguyễn Quang Ngọc, Địa chí Cổ Loa, NXB Hà Nội, 2010.

5.    Trần Quốc Vượng, Bản sắc văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm, NXB Văn học, 2003.

6.    Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 2005.

--------------------------------

wikipedia.org/wiki/ Nguy%E1%BB%85n_Hi%E1%BB%81n).

(Vĩnh Thuận sưu tầm - 7/11/2012)

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

IBS - THAM VỌNG MỞ ĐƯỜNG

Tham vọng mở đường

Tia Sáng - 02:13-29/10/2012 

Chủ tịch Oh Se-Jung của IBS
Tháng 5 vừa qua, Hàn Quốc đã khai trương một viện nghiên cứu mới, Viện Khoa học Cơ bản (IBS), với tham vọng rằng cơ sở này sẽ trở thành một trong những tổ chức nghiên cứu cơ bản hàng đầu thế giới, có thể xếp ngang hàng với Viện Max Planck Society của Đức và RIKEN của Nhật Bản.


Mục tiêu đưa ra cho Viện Khoa học cơ bản (IBS), có trụ sở đặt tại Daejeon, là trở thành một tổ chức khoa học đủ sức định hướng cho Hàn Quốc trong phát triển các công nghệ mới. “Cho đến nay chúng ta chỉ mới sao chép và chạy theo những công nghệ tiên tiến”, Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak nói trong bài phát biểu tại lễ khai trương viện. “Tuy nhiên, để thực hiện bước nhảy vọt vào hàng ngũ các quốc gia tiên tiến hàng đầu, chúng ta phải phát triển một nền tảng sáng tạo dựa trên khoa học cơ bản và công nghệ cơ bản”. Và ông Lee hứa sẽ hỗ trợ tốt nhất có thể để IBS trở thành “viện đáng mơ ước” thu hút được các nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới.

Trong quá khứ, “những những người có nhiều công bố khoa học thường được đánh giá tốt. Tuy nhiên, bây giờ là thời điểm để thúc đẩy các nghiên cứu mạo hiểm và sáng tạo để có thể đi khai phá trong một lĩnh vực mới, và chúng tôi sẽ không còn đánh giá kết quả đạt được thuần túy dựa trên đếm số lượng ấn phẩm nữa. Và hơn nữa, chúng tôi cho phép họ thất bại. Chúng tôi chỉ muốn họ phải liều lĩnh hơn”.
       Chủ tịch Oh Se-Jung của IBS
Năm 2011, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành một đạo luật để phát triển Dự án vành đai khoa học và kinh doanh quốc tế (ISBB), trong đó IBS sẽ được đầu tư 5,17 nghìn tỷ won (4,4 tỷ USD) cho tới năm 2017, đồng thời xây dựng trung tâm gia tốc đồng vị hiếm đầu tiên của quốc gia, cùng với các dự án khác.

Tham vọng lớn 

Thách thức lớn đối với những người tổ chức và quản lý Viện Khoa học Cơ bản là lựa chọn nhân sự. Theo George Sawatzky – nhà vật lý từ Đại học British Columbia của Mỹ, đồng thời là thành viên hội đồng tuyển chọn của IBS – tuy quá trình tuyển chọn nhân sự diễn ra nhanh chóng nhưng “những người được chọn đầu tiên chắc chắn đều là những ‘siêu sao’ đẳng cấp thế giới”.
IBS có kế hoạch thu hút 3.000 nhà nghiên cứu và nhân viên cho 50 trung tâm nghiên cứu ở Daejeon và trên khắp đất nước. Mỗi trung tâm sẽ có ngân sách trung bình hằng năm là 10 tỷ Won (xấp xỉ 9 triệu USD) và sẽ được quản lý bởi một nhà khoa học đẳng cấp thế giới làm việc theo một hợp đồng 10 năm. Giám đốc sẽ có quyền tự chủ rất lớn trong quyết định trọng tâm nghiên cứu, tuyển dụng nhân sự và điều hành trung tâm của mình.

Oh Se-Jung, nhà vật lý học là chủ tịch của IBS cho biết, viện sẽ khuyến khích sáng tạo và chấp nhận rủi ro. Ông nói, trong quá khứ, “những nhà khoa học có những nghiên cứu thất bại thường phải chịu sự trừng phạt nặng nề. Và những người có nhiều công bố khoa học thường được đánh giá tốt. Tuy nhiên, bây giờ là thời điểm để thúc đẩy các nghiên cứu mạo hiểm và sáng tạo để có thể đi khai phá trong một lĩnh vực mới, và chúng tôi sẽ không còn đánh giá kết quả đạt được thuần túy dựa trên đếm số lượng ấn phẩm nữa. Và hơn nữa, chúng tôi cho phép họ thất bại. Chúng tôi chỉ muốn họ phải liều lĩnh hơn”.



Khai trương Trung tâm Hợp tác gia tốc Hàn Quốc – Mỹ (KUCC) ngày 27/8/2012


KUCC mới thành lập sẽ đặt nền tảng cho Viện Khoa học Cơ bản/RISP hợp tác với một trong những phòng thí nghiệm gia tốc hàng đầu thế giới tại Bắc Mỹ để xây dựng một máy gia tốc ion nặng, cũng như thúc đẩy quá trình trao đổi công nghệ và chuyên gia.

IBS sẽ chuyên thực hiện các dự án dài hạn đòi hỏi những nhóm lớn các nhà nghiên cứu, và như vậy không thể được thực hiện tại các trường đại học hay các trung tâm nghiên cứu khác. “Chúng tôi sẽ tập trung vào các lĩnh vực mà mình có thế mạnh và đủ sức cạnh tranh giành top đầu trên thế giới”, ông Oh nói. “Chúng tôi cũng sẽ chọn những lĩnh vực quan trọng đối với quốc gia và cả thế giới, ví dụ như biến đổi khí hậu”.

Để theo đuổi xu hướng toàn cầu, Viện sẽ đặt ưu tiên hàng đầu cho khoa học sự sống, với số lượng các trung tâm dành riêng cho lĩnh vực này nhiều hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác. Sau đó là các lĩnh vực yêu cầu những thí nghiệm trên quy mô lớn như thiên văn học và vật lý, và tiếp theo là hóa học, toán học và khoa học trái đất, ông Oh cho biết.

Mô hình quản lý của IBS được tổ chức tương tự như mô hình Hội Max Planck của Đức và Viện RIKEN của Nhật, nhưng tính thứ bậc cao hơn. IBS dự kiến thành lập được 25 trung tâm vào giữa năm 2013. Một nửa các trung tâm sẽ nằm ở Daejeon, một đô thị khoa học cách Seoul 150 km. Các trung tâm khác sẽ nằm rải rác ở nhiều nơi, đa số nằm ở các trường đại học. “Cách bố trí này nhằm tránh sự thiên lệch quá nhiều cho một miền nào đó của đất nước”, ông Oh nói.

Độc chiếm nguồn lực

Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu trong nước lo lắng trước quy mô đầu tư quá lớn của IBS. Han Woong Yeom, nhà vật lý tại Đại học KH&CN Pohang, cảnh báo rằng tập trung quá nhiều kinh phí vào một nhóm nhỏ các nhà khoa học được ưu tiên đặc biệt có thể sẽ ngốn hết nguồn lực cho các dự án nghiên cứu khác.

Ông nói, “mức hỗ trợ tài chính lớn nhất cho mỗi nhóm nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học cơ bản cho đến nay là 1,5 tỷ Won, ít hơn rất nhiều so với ở các trung tâm của IBS. Vì vậy, các trung tâm nghiên cứu của IBS có thể độc chiếm các nguồn nhân lực và làm phá sản các dự án nghiên cứu quy mô nhỏ bên ngoài IBS”. Yeom còn cho rằng vấn đề chính hiện nay mà các nhà nghiên cứu Hàn Quốc phải đối mặt không phải là thiếu đầu tư mà là tình trạng thiếu hụt nhân lực.

Oh thừa nhận rằng những lo lắng như vậy có thể chuyển thành những phê phán về sự mất cân đối giữa các chuyên ngành ở IBS, và về sự phân bố địa lý rải rác trên diện rộng của các trung tâm nghiên cứu. “Đây là một dự án quốc gia, do đó, cần một sự đồng thuận chính trị về sự mất cân bằng như vậy, và đây là điều làm tôi ít nhiều quan ngại. Nhưng nếu viện thành công, các nhà khoa học của đất nước cuối cùng sẽ chấp nhận”, ông nói.

Thu Quỳnh tổng hợp

Các nguồn:
http://www.nature.com/news/south-korean-research-centre-seeks-place-at-the-top-1.10667
http://newsline.linearcollider.org/2012/09/20/korea-us-collaboration-center-for-accelerator-science-opens-at-fermilab/
http://www.physicstoday.org/resource/1/phtoad/v65/i10/p26_s1?view=print&bypassSSO=1

-------------------------------------------------
(Vĩnh Thuận sưu tầm - 30/10/2012 - http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=5801 )
Xin xem thêm bài về quan hệ An Nam - Cao Ly từ quá khứ trên tạp chí Tia Sáng:

Thứ Hai, 22 tháng 10, 2012

CÂU LẠC BỘ TRÀ tháng 10

Tháng 10 cuối thu nắng vừa gió mát, chúng tôi họp CLB Trà Cà phê ở Bách Thảo. Mải đi chơi cháu ngoại, hôm nay mới đưa ảnh từ hôm thứ Năm 11-10-2012 lên Blog được. Xin mời bà con Xuân Đỉnh vừa ăn hồng vừa coi ảnh nha:




Ba ảnh trên: Quang cảnh Quán Cà phê Bách Thảo ở 1B đường Hoàng Hoa Thám 

Các cụ nói "Trà tam Tửu tứ" chỉ có đúng. 

Ba cụ hưu trà lá cùng cô tượng đồng trẻ 

Chị Nhung cùng anh Nội và anh Tường - photo: Thuận 




Xin kèm thêm 2 ảnh hôm đi Thiên Sơn Suối Ngà (trong chuyến thăm nhà anh Nội ở Ba Trại)

Chị Nhung và cô Vân - phu nhân anh Tường chụp ở cây "Đa lá lệch" 

Chị Nhung ở khu vực Ngoạn Sơn


(Vĩnh Thuận - Ngọc hà - đưa lên: 23/10/2012)



Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

ĐÔI ĐIỀU nước PHÁP


Chị Hồng Nhung vừa đi Pháp về và kể cho chúng tôi nhiều chuyện xứ Tây tại CLB Trà-Cafe Bách Thảo. Xin gửi đến các bạn đôi điều về nước Pháp:


Tia Sáng - 09:47-04/10/2012 

Pháp - dân tộc "khó chịu" nhất thế giới

Hoàng Nhu

Cây cầu này khiến tôi liên tưởng ngay tới cầu Long Biên

Bạn tôi làm điều phối cho một tổ chức tình nguyện ở Việt Nam khăng khăng quả quyết rằng “Pháp là một trong những dân tộc khó chịu nhất thế giới”! Tôi ở Hà Nội, ít khi gặp và tiếp xúc với người Pháp và do sự quả quyết tuyệt đối của cô bạn, tôi đã… rất đồng tình về điều mà tôi còn chưa từng mắt thấy tai nghe.





May mắn giành được suất học bổng tình nguyện qua Pháp, để chuẩn bị cho chuyến đi, tôi cũng “google” về Pháp, về đi lại, về ăn uống, mua sắm, con người, văn hóa, tất tần tật… Tôi cũng đọc cả những kinh nghiệm của những người từng du lịch Pháp, rằng ở Paris bạn phải thật cẩn thận với nạn móc túi, gây gổ, cướp giật..., phần lớn liên quan đến người da màu...

Cảm xúc đầu tiên của tôi khi đặt chân tới Paris là... chuếnh choáng như vừa uống phải rượu. Từng con đường, từng căn nhà ở nơi đây sao mà đẹp và thơ mộng tới vậy. Những căn nhà với ban-công treo đầy giọ hoa lãng mạn theo một lối rất cổ điển. Mặc dù va-li hành lý lỉnh kỉnh nhưng tôi sống chết vẫn phải mở túi, lấy máy ảnh ra chụp vài kiểu mở hàng. Đang mải mê chụp choẹt, tôi bỗng nghe có tiếng người như nói với mình “Shut your bag” (Khóa túi đồ của bạn lại), tôi nhìn xuống túi thì đúng là tôi vẫn chưa kéo khóa lại vì nghĩ để trước bụng rồi, ai lấy được nữa, tính chụp vài kiểu ảnh rồi lại cất đi, mở ra đóng vào phiền chết. Tôi quay lại nhìn người vừa nói với mình thì đó là một phụ nữ da màu. Trong lúc tôi còn mải nghĩ tới lời nhận xét của những người bạn về người da màu ở Paris thì người phụ nữ kia đã quay lưng bỏ đi. Chợt nhận ra mình chưa nói lời cám ơn, tôi vội rối rít nói với theo “merci, merci”.

Paris có hệ thống tàu điện ngầm chằng chịt với tổng số bến tàu nhiều thứ 3 thế giới, chỉ sau hệ thống tàu điện ngầm ở New York và Seoul. Metro Paris phục vụ đi lại cho khoảng 4,5 triệu lượt người mỗi ngày và do đó đường phố trên mặt đất ở Paris khá thông thoáng bởi mọi người đều… chui hết xuống lòng đất rồi! Một điều rất ngạc nhiên và thú vị ở Paris là dù tín hiệu báo người đi bộ phải dừng lại, nhưng các phương tiện như ô tô, xe máy đều dừng lại nhường cho người đi bộ qua hết họ mới đi. Tôi nói chuyện với một người bạn Pháp về điều này, anh kể tôi nghe rằng dân Thụy Sĩ còn “khủng khiếp” hơn thế. Dù cho bạn chả buồn sang đường và cứ muốn đứng ì một chỗ thì ô tô cũng “thi gan” đứng lì một chỗ cho tới khi bạn băng qua đường mới chịu đi. Tôi tưởng tượng nếu người Pháp hay Thụy Sĩ sang Việt Nam, họ buộc phải học cách... cướp đường, giành đường hoặc không thì công an sẽ hỏi thăm bạn bởi bạn đang là nguyên nhân gây ra tắc đường cục bộ…

Người Pháp nổi tiếng thế giới về lòng tự tôn ngôn ngữ của mình và do vậy không thèm học, không thèm nói, không chịu nói tiếng Anh, hoặc nếu có nói thì “như một người Pháp nói tiếng Anh”. Trước chuyến đi tôi lại chẳng chịu update mấy câu tiếng Pháp vì cứ nghĩ, ôi dào, chẳng nhẽ dân Pháp không một ai biết nói tiếng Anh, mà đâu phải khách du lịch nào cũng nói được tiếng Pháp. Vâng, đúng là tôi đã có những trải nghiệm vô cùng thú vị khi tôi hỏi một người Pháp một câu bằng tiếng Anh, họ trả lời tôi một tràng bằng tiếng Pháp. Tôi ngẩn người vì… có hiểu gì đâu, họ thấy tôi vậy thì nói bằng tiếng Anh rằng “I don’t speak English, sorry”. Rõ ràng họ phải hiểu được câu nói của con bé tội nghiệp như tôi đang lớ ngớ tìm đường thì mới nói được một tràng dài bất tận như thế chứ. Nhưng sau khi thấy bộ mặt quá ư tội nghiệp của tôi thì họ chỉ tôi ra một quầy thông tin ở gần đó và nói rằng “you go there for information”. Vâng, người Pháp “khó chịu” một cách đáng yêu như thế đấy ạ! Tôi lại luống cuống “merci, merci beaucoup”.

Vâng, còn đàn ông Pháp thì lãng mạn đến mức “khó chịu” ạ! Nhưng đó lại là câu chuyện của cá nhân tôi rồi. Nếu các bạn vẫn còn hoài nghi về những điều tôi kể, hãy tới Pháp để cảm nhận và trải nghiệm sự “khó chịu” đáng yêu đó của người Pháp!


Metro Paris - Ligne 5 - Pont d'Austerlitz

BÀI HỌC ĐÔNG & TÂY ĐỨC THỐNG NHẤT



Tạp chí Tia Sáng - 01:42-11/10/2012 

Gian nan chuyển đổi nền kinh tế từ quản lý tập trung sang thị trường

TS Nguyễn Sỹ Phương (CHLB Đức)

Bản đồ nước Đức với hai phần tách biệt:
Đông Đức màu nghệ và Tây Đức màu tím
Khác với Việt Nam, Trung Quốc, Nga và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ, chuyển đổi hoàn toàn tự lực, và không có đối chứng so sánh, khó định lượng được mức độ gian nan và trường kỳ của quá trình chuyển đổi, nền kinh tế Đông Đức được Tây Đức đổ bao nhân, tài, vật lực, công cụ luật pháp hỗ trợ, nhưng tới nay vẫn còn cần tiếp 50 năm nữa mới đuổi kịp đối chứng Tây Đức, vốn cả hai cùng xuất phát điểm năm 1945 hoàn toàn tương đương nhau về mọi mặt.
Để có sơ sở xây dựng đối sách chuyển đổi tối ưu, kể từ năm 1997, hàng năm, nhân ngày tái thống nhất 3/10, Chính phủ Đức đều đưa ra báo cáo tổng kết về thực trạng phát triển kinh tế Đức, phân tích đánh giá so sánh giữa hai miền, bao gồm cả quá trình lũy kế tính từ năm thống nhất lẫn năm hiện tại. 

Kết quả báo cáo năm nay, công bố đầu tháng này cho thấy, sau 23 năm tái thống nhất nước Đức kể từ khi bức tường Berlin sụp đổ, kinh tế Đông Đức vẫn đình trệ, thậm chí tụt nhiều so với các tiểu bang Tây Đức. Theo đó, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người năm 2011 tại Đông Đức chỉ bằng 71% Tây Đức. Về tốc độ tăng trưởng, nếu loại bỏ yếu tố lạm phát 2,5%, thì các tiểu bang Đông Đức nằm dưới mức trung bình toàn Liên bang tới 3%. Sang nửa đầu năm nay, kinh tế Đông Đức tăng trưởng 0,5% trong khi kinh tế Tây Đức tăng tới 1,2%, tức trên gấp đôi. Thu nhập từng hộ gia đình tại Đông Đức thấp hơn 1/5 Tây Đức. Sức mua tại các tiểu bang Đông Đức thấp hơn mức trung bình toàn Liên bang 16%. Về lao động, số người có việc làm tại Đông Đức không ngừng tăng kể từ năm 2005, tới năm 2011, tỷ lệ thất nghiệp xuống cực tiểu chỉ còn 11,3%, mức thấp nhất kể từ sau tái thống nhất, nhưng so với Tây Đức vẫn cao gấp đôi!

Sau 23 năm, GDP đầu người Đông Đức mới chỉ tương đương hơn 2/3 Tây Đức, mặc dù tổng cộng đã có khoảng từ 1 tới 2,5 nghìn tỷ Euro được đổ vào đây để giúp chuyển đổi nền kinh tế.
Hệ quả chênh lệch các chỉ số trên, dẫn tới thay đổi cơ cấu địa kinh tế. Trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến 2008, dân số Đông Đức giảm 11,7% do chuyển sang Tây Đức sinh sống, và xu hướng này dự báo còn giảm tiếp tục trong những năm tới. 


Nếu biết rằng nước Đức đã phải đổ vào Đông Đức tổng cộng tới nay ước chừng từ 1 tới 2,5 nghìn tỷ Euro, mà sau 23 năm chỉ mới đưa được GDP đầu người Đông Đức lên tương đương hơn 2/3 Tây Đức, mới thấy cái giá vực dậy nền kinh tế quản lý tập trung, chuyển đổi nó sang nền kinh tế thị trường tốn kém khủng khiếp ở mức độ nào, đằng đẵng tới bao lâu.

Về tài chính, chỉ riêng người lao động, theo luật SolZG họ phải trích lương đóng khoản tiền tái kiến thiết Đông Đức được gọi là phí đoàn kết từ năm 1991 ở mức 7,5% thuế lương, và từ năm 1998 mới giảm xuống còn 5,5%. Tính ra, hàng năm, nhân dân cả nước Đức đã đóng góp tài chính cho Đông Đức thông qua Quỹ trên lên tới trên dưới 10 tỷ Euro ngang ngửa thu ngân sách Việt Nam, liên tục từ 23 năm qua. Quỹ thống nhất nước Đức FDE thành lập năm 1990 để đầu tư trang bị cho cơ quan nhà nước phía Đông từ 1990-1994 là 115 tỷ DM, sau đó được nâng lên 146,3 tỷ, và tháng 3/1993 nâng lên mức cuối cùng 160,7 tỷ. Tổng cộng 5 tiểu bang Đông Đức nhận từ Liên bang Đức mỗi năm 20,6 tỷ Euro. Quỹ thống nhất nước Đức lần 2 đổ tiếp vào Đông Đức, bắt đầu từ năm 2004, có giá trị tới 2019 với mức 156,5 tỷ Euro, trong đó có 105,3 tỷ Euro được dùng đầu tư cơ sở hạ tầng.

Chỉ 9% người dân Đông Đức muốn trở lại thời Đông Đức, trong khi 11% dân Tây Đức muốn dựng lại tường thành chia đôi Berlin trước kia do họ không muốn chịu đựng hơn nữa gánh nặng Đông Đức – theo điều tra nới đây của Trung tâm Nghiên cứu khoa học xã hội Berlin và Brandenburg
Trong khi ở Việt Nam, doanh nghiệp phải loay hoay học hỏi tìm kiếm thử nghiệm mô hình tập đoàn trên thế giới để mong “tạo ra những cú đấm thép“ cạnh tranh toàn cầu, và hệ quả chục năm sau vẫn phải tìm kiếm giải pháp tái cơ cấu lại nó, thì doanh nghiệp Đông Đức đã có sẵn mô hình áp dụng cùng hành lang pháp lý Tây Đức điều chỉnh, đó là một lợi thế độc nhất trên thế giới không một quốc gia nào chuyển đổi nền kinh tế từ quản lý tập trung sang thị trường có thể có được. Nghĩa là Đông Đức không chỉ được đầu tư nhân, tài, vật lực tối đa cho quá trình chuyển đổi, mà còn tránh được, không phải trả giá mầy mò cho quá trình đó, ấy thế mà con đường phấn đấu nhắm đích ngang ngửa trình độ phát triển Tây Đức còn phải trông đợi những 50 năm tới. Nền kinh tế Việt Nam, Trung Quốc, Nga, và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ không có được cơ may như Đông Đức, liệu có đủ nỗ lực gấp bội họ nhiều lần để có thể đuổi kịp thế giới trong cùng quãng thời gian như họ? Nếu không, sẽ đằng đẵng tới bao giờ?


Thống nhất đất nước là khát vọng chung của mọi quốc gia chia cắt, nhưng cái giá phải trả dẫn tới sự nhìn nhận về nó không phải người nào cũng giống người nào. Kết qủa khảo cứu mang tên: “Điều tra xã hội học năm 2012, nước Đức thống nhất từ năm 1990-2012, chỗ đứng của công dân„ do Trung tâm Nghiên cứu khoa học xã hội Berlin và Brandenburg, Đức, tiến hành, công bố đầu tháng này, cho thấy: 37% công dân Tây Đức cho rằng mình bị thiệt thòi bởi thống nhất, trong khi phía Đông chỉ 24%. Ngược lại 42% công dân phía Đông coi thống nhất là thắng lợi vẻ vang, trong khi phía Tây chỉ 37%. Có hơn một nửa vừa không muốn quay trở lại nước Đức, nhưng cũng không coi cuộc sống hiện tại đã thực sự hạnh phúc, nghĩa là không thể bằng lòng với nó mà còn phải phấn đấu. Chỉ 9% người dân Đông Đức muốn trở lại thời Đông Đức, bởi số này đã quen thích nghi với nền kinh tế đó như máu thịt, trong khi 11% dân Tây Đức muốn dựng lại tường thành chia đôi Berlin trước kia do họ không muốn chịu đựng hơn nữa gánh nặng Đông Đức. Dù tư tưởng ngược lại khát vọng chung của dân tộc, nhưng họ cũng là nhân dân, đồng chủ nhân đất nước, được quyền bày tỏ chính kiến riêng mình và là một căn cứ không thể bất chấp khi nhà nước hoạch định chính sách.

(Vĩnh Thuận sưu tầm - Mỹ Đình - 12/10/2012)

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2012

Lịch sử quần đảo Senkaku


Tạp chí Tia sáng -  01:09-20/09/2012
Hồ sơ

Senkaku/Điếu Ngư: Quần đảo tranh chấp

Theo History Today
Joyman Lee
Bài viết của Joyman Lee đăng trên tạp chí History Today từ năm 2011 đến nay vẫn còn giá trị thời sự, khi những diễn biến gần đây cho thấy sự căng thẳng trong mối quan hệ Trung – Nhật liên quan đến vấn đề chủ quyền tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ngày càng gia tăng.

Ngày 7 tháng 9 năm 2010, một tàu cá Trung Quốc đã va chạm với hai tàu tuần duyên Nhật Bản tại quần đảo không người ở nhưng nhiều dầu mỏ ở vùng biển Đông Hải – Nhật Bản gọi đó là quần đảo Senkaku (Tiêm Các), còn Trung Quốc gọi là Điếu Ngư. Sau vụ va chạm, lực lượng tuần duyên [Nhật Bản] đã bắt giữ các thủy thủ và thuyền trưởng Chiêm Kỳ Hùng, người mà băng ghi hình cho thấy là đã cho tàu đánh cá lao thẳng vào tàu tuần duyên. Tiếp nối sự kiện đó là hàng loạt các cuộc biểu tình bài Nhật được tổ chức ở các thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Thượng Hải, Hồng Kông và Thẩm Dương. Các tour du lịch Nhật Bản bị hủy, bốn nhân viên của công ty sản xuất phụ tùng xe hơi Nhật Bản Fujita bị bắt ở tỉnh Hà Bắc, và nghiêm trọng nhất là [Trung Quốc đã] quyết định ngừng xuất khẩu đất hiếm sang Nhật Bản. 

Ngày 1 tháng 11 Tổng thống Nga Dmitri Medvedev, trong một động thái đầy khiêu khích, đến thăm quần đảo Kuril ở phía Nam cũng đang trong tình trạng tranh chấp, nơi Liên Xô giành được từ tay Nhật Bản vào năm 1945.

Chuỗi sự kiện này đánh giá một bước lùi trong quan hệ quốc tế của Nhật Bản, vốn đang sa lầy trong những bất đồng liên quan tới kế hoạch di dời căn cứ quân sự Futenma tại Okinawa mà quân đội Mỹ đã sử dụng từ nhiều thập kỷ nay. Và Nhật Bản dường như đang bị công kích từ mọi phía trong khi một Trung Quốc mới nổi lên dường như đang ngày càng mạnh mẽ và quyết đoán, đủ sức đe dọa những lợi ích quan trọng của Nhật Bản, trong đó có vấn đề chủ quyền lãnh thổ.

Quan niệm chủ quyền gắn với triều cống* 

Để hiểu rõ cuộc tranh chấp hiện nay giữa Trung Quốc và Nhật Bản, chúng ta cần nhìn lại lịch sử đối ngoại của Trung Quốc. Nhà nghiên cứu Trương Khải Hùng từ Viện Sinica của Đài Loan, cho rằng trật tự thế giới dưới góc nhìn của Trung Quốc thời cận đại dựa trên địa vị và sự ổn định (danh phận chi tự). Nghĩa là, chủ quyền hợp pháp ở đây [đối với một quốc gia] không nhất thiết dựa trên sự kiểm soát mang tính trực tiếp, mà là ở quyền [buộc người đứng đầu quốc gia ấy phải xin] thừa nhận và sắc phong chức danh cùng quyền hạn kèm theo. Theo logic đó, các hoàng đế mở rộng quyền lực của mình vượt khỏi biên giới Trung Quốc không phải bằng vũ lực mà bằng sự cai trị có tính “nhân đức”, điều mà các nhà Nho của Trung Quốc xưa kia tin rằng sẽ khiến các quốc gia khác phải thừa nhận quyền lãnh đạo của hoàng đế. Như vậy, nước Trung Quốc xưa kia cho rằng nó cai trị cả bên ngoài biên giới, kể cả nơi nó không có bộ máy chính quyền. 

Việc công nhận địa vị thiên tử của hoàng đế Trung Quốc sẽ đem lại những lợi ích thực dụng: trao đổi quà tặng với triều đình Trung Quốc, một hình thức đem lại nhiều lợi lộc [cho các vị vua nước láng giềng, giúp họ] có được nhiều hàng hóa không dễ gì kiếm được ở nơi khác. Hơn nữa, quà tặng và sắc phong của các hoàng đế Trung Hoa còn giúp những vị vua các nước láng giềng củng cố vị thế cai trị của mình. Mặc dù Nhật Bản đứng ngoài hệ thống này trong suốt thời kỳ Tokugawa (1603-1868) nhưng phần lớn các quốc gia Đông Á, Trung Á, Đông Nam Á, kể cả Ryukyu (Lưu Cầu - Okinawa hiện nay), đều chấp nhận triều cống Trung Quốc.

Sự lúng túng của Trung Quốc trước luật pháp quốc tế từ phương Tây

Trật tự quốc tế với Trung Quốc là trung tâm đã suy yếu rất nhiều trong triều nhà Thanh (1644-1912). Việc Trung Quốc bại trận trước nước Anh trong các cuộc chiến tranh nha phiến (1839-42) và Hiệp ước Nam Kinh (1842) cũng như Hiệp ước Vọng Hạ với Mỹ năm 1844 đã giúp các siêu cường phương Tây áp đặt các đạo luật quốc tế có xuất xứ từ châu Âu lên những trật tự quan hệ quốc tế ở Đông Á. 

Người Anh hợp pháp hóa quyền kiểm soát hệ thống cảng biển và hải quan hàng hải của Trung Quốc, thâu tóm được qua các hiệp ước, biến địa vị của Trung Quốc thành một nước bán thuộc địa. Mặc dù một số sử gia khi nhìn lại đã cho rằng nhà Thanh có phản ứng lại khá nhanh và đến năm 1862, các học giả ở trường Đồng Văn Quán do triều đình lập ra đã được nghiên cứu các tài liệu quan trọng, ví dụ như cuốn Các thành phần Luật quốc tế của Henry Wheaton (1836), nhưng trong thực tế nhà Thanh vẫn rất lúng túng, không biết phải áp dụng những hiểu biết đó như thế nào trong trật tự quan hệ với các nước láng giềng.

Trong khi đó, dưới triều Minh Trị (1868-1912), Nhật Bản tiến hành một chương trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước đầy tham vọng, bao gồm cả việc áp dụng các thuật ngữ phương Tây trong ngôn ngữ ngoại giao. Năm 1876, Nhật Bản buộc đồng minh thân cận nhất của Trung Quốc là Triều Tiên phải ký hiệp ước Kanghwa, với cách thức giống hệt như cách đô đốc Perry của Mỹ đã buộc Nhật Bản mở cửa giao thương từ 22 năm trước đó.  

Xung đột quanh những mối quan hệ của Trung Quốc và Nhật Bản với Triều Tiên lên đến đỉnh điểm vào cuộc họp ở Thiên Tân năm 1885, nơi Trung Quốc từ chối yêu sách của Nhật Bản đòi quan hệ Nhật – Hàn được thừa nhận căn cứ theo luật quốc tế. Thay vì biện hộ rằng không am hiểu tiêu chuẩn phương Tây như các nhà đàm phán Triều Tiên từng làm, quan đại thần Lý Hồng Chương của Trung Quốc nói với nhà ngoại giao Nhật Bản Ito Hirobumi rằng có một “khác biệt sâu sắc” giữa quan hệ triều cống Triều - Trung với hiệp ước thông thường mà Triều Tiên đã ký với Nhật Bản.

Trong nghiên cứu mang tên Nhật Bản đô hộ Triều Tiên: Đối thoại và Quyền lực (2005), Alexis Dudden lập luận rằng Nhật Bản đã phá vỡ được vị thế trung tâm quyền lực tại châu Á của Trung Quốc vào thế kỷ 19 bằng cách sử dụng ngôn ngữ và sức mạnh của luật pháp phương Tây để thay thế cho các quy ước của Trung Quốc vốn cho tới lúc đó vẫn còn được chấp nhận rộng rãi ở Đông Á. Nhật Bản đã áp dụng các thuật ngữ dịch ra từ tiếng Anh để đối thoại với Trung Quốc. Tại Thiên Tân, Ito thậm chí còn từ chối trao đổi với Lý Hồng Chương bằng tiếng Nhật hoặc Trung, thay vào đó chỉ nói tiếng Anh, khiến cho vị đại thần của Trung Quốc bị hoàn toàn bất ngờ. 

Xung đột quan điểm về Đông Á giữa Trung Quốc và Nhật Bản sau đó được giải quyết trên chiến trường. Mặc dù hải quân được trang bị yếu hơn một cách cơ bản nhưng Nhật Bản đã tận dụng được một chuỗi những sai lầm vô cùng tai hại về chính trị và chiến lược của Lý Hồng Chương để đánh bại Trung Quốc hoàn toàn trong các năm 1894-95, giành quyền kiểm soát Triều Tiên và quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, chưa kể Nhật Bản còn tấn công cả Đài Loan. 

Tại một cuộc gặp sau đó vào năm 1905, quan đại thần Viên Thế Khải của Trung Quốc bị đại diện phía Nhật Bản cười nhạo sau khi Viên phàn nàn rằng trong văn bản có một chữ Hán mà ông chưa từng nhìn thấy bao giờ. Vị đại diện Nhật Bản giải thích rằng chữ đó là kogi, có nghĩa là ‘phản đối’, được dịch từ chữ ‘protest’ trong tiếng Anh. Vậy là, trong thời kỳ này Nhật Bản chứ không phải Trung Quốc, mới là nơi cung cấp nguồn từ vựng chữ Hán hiện đại sử dụng trong luật pháp và các lĩnh vực khác, từ thực vật học cho tới kinh tế học.

Lịch sử quần đảo Senkaku/Điếu Ngư

Điều này liên quan như thế nào tới tranh chấp ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư? Từ thập niên 1970, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa, Đài Loan và cả Nhật Bản đều khẳng định mạnh mẽ chủ quyền ở quần đảo này, nơi có cùng khoảng cách đến Đài Loan và cực Tây Nam quần đảo Ryukyu của Nhật Bản. Theo các nguồn từ Trung Quốc thì lần đầu tiên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư được nhắc đến là trong một tài liệu từ thế kỷ thứ 15 hiện đang được lưu giữ tại Thư viện Bodleian, Oxford. Những nguồn tài liệu cổ nhất đều chỉ đề cập về vị trí của quần đảo này trên tuyến đường từ Trung Quốc đến Ryukyu, nhưng những tài liệu thế kỷ 17 của Trung Quốc đã khẳng định rõ biên giới trên biển giữa quần đảo Senkaku/Điếu Ngư và quần đảo Ryukyus – họ gọi đó là Heishuigou (Hắc Thủy Câu – rãnh nước đen) – một khu vực bất ổn mà ngày nay chúng ta biết nó chính là rìa của thềm lục địa.

Năm 1720, Từ Bảo Quang, vị phó sứ Trung Quốc trong chuyến đi nhằm phong tước vương cho vua của nước Lưu Cầu (Ryukyu), đã cùng với các học giả địa phương đã biên dịch cuốn du kýZhongshan Chuanxin lu (Trung Sơn truyền tín lục) - ghi chép về hành trình tới Trung Sơn (Chusan), trong đó xác định rõ biên giới cực Tây của vương quốc Lưu Cầu là tại đảo Kume, phía Nam của Hắc Thủy Câu. Một vị phó sứ khác là Châu Hoàng cũng xác định Hắc Thủy Câu là ranh giới vào năm 1756. Sau này, sứ thần Lý Định Nguyên có ghi chép lại về phong tục hiến tế sống một con dê hoặc lợn khi có đoàn tàu đi sứ qua vùng nước này. 

Cuối thế kỷ 19, nhà cải cách Vương Đào, người từng có kinh nghiệm du hành tới châu Âu đã phản bác việc Nhật Bản sáp nhập Lưu Cầu (Ryukyu) bằng cách dẫn nguồn các tài liệu cổ Nhật Bản trong đó nói rằng Ryukyu là một quốc gia riêng biệt vào năm 1670. Ông lập luận rằng mặc dù quần đảo này là chư hầu của cả Trung Quốc và xứ Satsuma của Nhật Bản, nhưng mối quan hệ với Trung Quốc có tính chính thống hơn; việc một nước triều cống bên ngoài (tức Nhật Bản) xâm chiếm một nước triều cống bên trong Trung Quốc là một sự sỉ nhục [đối với Trung Quốc].

Ngược lại, lập luận từ phía Nhật Bản hầu như bỏ qua các sử liệu Trung Quốc. Với tuyên bố rằng quần đảo không có người ở và không bị quyền lực nào kiểm soát – hay gọi là terra nullius – Nhật Bản đã sáp nhập quần đảo này vào lãnh thổ của mình vào năm 1895 sau chiến thắng trong chiến tranh Trung – Nhật. Nhật Bản tuyên bố rằng quần đảo được một thương gia ở Fukuoka tên là Koga Tatsushiro “phát hiện” vào năm 1884, người sau đó đã đăng ký thuê lại các đảo này từ Chính phủ Nhật Bản. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Bộ Nội vụ thấy rằng vẫn chưa rõ đây có thuộc về lãnh thổ Nhật Bản hay không, nhất là khi đã có những tài liệu rất chi tiết viết bằng tiếng Trung Quốc và Lưu Cầu về quần đảo này khiến cho “khám phá” của Koga khó được chứng thực. Dù vậy, nội các [Nhật Bản] vào năm 1895 đã quyết định rằng quần đảo nên trở thành một phần của nước Nhật. Quyết định này tạo cơ sở cho việc Nhật Bản tuyên bố chủ quyền lãnh thổ theo Hiệp ước Hòa Bình San Francisco năm 1952 khi kết thúc Thế chiến thứ 2. Tuy nhiên, khi đó cả Trung Quốc và Đài Loan đều không tham gia.

Theo quan điểm của Trung Quốc, có rất ít cơ sở để Nhật Bản khẳng định rằng quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trước đây là “vô chủ”, và cần có sự phân biệt giữa “không người ở” với “vô chủ”. Có những nguồn tài liệu nói rằng có một số mộ của ngư dân Đài Loan trên đảo. Tuy lực lượng chiếm đóng của Mỹ ở Okinawa đã quản lý quần đảo Senkaku/Điếu Ngư từ năm 1945 đến năm 1972 và dùng nơi này làm căn cứ huấn luyện nhưng Chính phủ Mỹ không hề cho rằng việc chuyển giao quyền quản lý quần đảo cho Nhật Bản đồng nghĩa với việc chuyển giao chủ quyền, và Mỹ khẳng định rõ rằng đây là vấn đề cần được các bên liên quan cùng giải quyết.

Nhận thấy sự mơ hồ đó, Hội đồng Lập pháp Okinawa, khi đó vẫn thuộc quyền kiểm soát của Mỹ, đưa ra một tuyên bố vào tháng Tám năm 1970, nói rằng quần đảo là của Nhật Bản và tuyên bố này sau đó được ngoại trưởng Aichi Kiichi ủng hộ trước Quốc hội. Lúc đó, Đài Loan đưa ra một phản đối chính thức, và đến cuối năm đó thì truyền thông Trung Quốc cũng chính thức lên tiếng phản ứng với nội dung tương tự.

Trái bom nổ chậm

Sự tranh chấp chủ quyền tại quần đảo này sớm muộn sẽ xảy ra, giống như một trái bom nổ chậm, do nó gắn với những quyền lợi to lớn. Nhật Bản khẳng định rằng Trung Quốc và Đài Loan quan tâm đến quần đảo chủ yếu vì có khả năng nơi đây có nhiều mỏ dầu. Giữa các nước liên quan đến những tranh chấp gần đây về chủ quyền đối với quần đảo, có rất ít những cuộc đối thoại mang tính xây dựng. Vấn đề này vẫn là một trong những tâm điểm gây căng thẳng trong quan hệ ngoại giao Trung – Nhật, bên cạnh một điểm nóng khác là vụ Thảm sát Nam Kinh năm 1937. Quan điểm cứng nhắc [, không xoa dịu] của Nhật Bản về [trách nhiệm của họ đối với] những tội ác thời Đệ nhị Thế chiến càng đổ thêm dầu vào ngọn lửa bài Nhật và biến nước này dễ dàng trở thành một mục tiêu để những người Trung Quốc bất mãn trút giận. 

Quan điểm của Trung Quốc về chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư có thể được so sánh với tình hình thời thập niên 1930, khi mà Trung Hoa Quốc dân Đảng từ chối chấp nhận hay thừa nhận quyền kiểm soát của Nhật Bản đối với Mãn Châu Lý (mà Nhật Bản gọi là Mãn Châu Quốc) bất chấp mối lo ngại rằng thực lực quân sự Trung Quốc không thể chống lại Nhật Bản. Bằng cách không thừa nhận quyền kiểm soát của Nhật Bản đối với phần lãnh thổ bị mất, Trung Quốc muốn gây ra tình hình bất ổn ở khu vực đó ngay cả khi Chính phủ Trung Hoa Quốc dân Đảng đóng tại Nam Kinh hoàn toàn không có khả năng vươn tầm kiểm soát tới khu vực tranh chấp. Đồng thời, thái độ thách thức của Chính phủ [Trung Hoa Quốc dân Đảng] đối với Nhật Bản còn giúp họ củng cố vị thế lãnh đạo duy nhất và hợp pháp ở Trung Quốc. Như vậy, việc Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ ở Mãn Châu Lý thời thập niên 1930 cũng như ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ngày nay chủ yếu là nhằm phục vụ chính sách đối ngoại của họ chứ không thực sự phản ánh một khẳng định về sự kiểm soát thực chất đối với những vùng tranh chấp này theo quan niệm thông thường của phương Tây. 

Dưới góc nhìn của Tokyo trong tình hình hiện nay, một nước Trung Quốc đầy kiên quyết đang khoe cơ bắp và cố bắt thế giới phải chấp nhận một logic thiếu căn cứ, hay ít nhất đó là một logic xa lạ đối với truyền thống luật pháp phương Tây, gây xâm phạm quyền kiểm soát lãnh thổ mà Nhật Bản thu được một cách hợp pháp vào thế kỷ 19, theo những luật lệ chính tắc đương thời.

Tuy nhiên, chúng ta không thể hiểu tranh chấp Trung – Nhật nếu không biết về sự phức tạp trong quá trình hình thành các quốc gia ở châu Á cuối thế kỷ 19. Bất chấp nền kinh tế khu vực Đông Á phát triển mạnh mẽ kể từ sau Thế chiến thứ II, tranh chấp biên giới vẫn tiếp tục tồn tại như một di sản từ thế kỷ 19, một giai đoạn khi mà có những chênh lệch rõ ràng về sức mạnh giữa các quốc gia liên quan, một bên là những nước am hiểu vận dụng các phương thức của phương Tây như Nhật Bản và Nga, và bên kia là những nước thích nghi và phản ứng chậm hơn như Trung Quốc. Việc Nhật Bản giành được quyền kiểm soát tạm thời đối với quần đảo không có nghĩa là nó hoàn toàn loại bỏ được một quan niệm cũ về chủ quyền hợp pháp [theo cách nhìn của Trung Quốc]. 

Ngày nay, Nhật Bản đang có những tranh chấp lãnh thổ không chỉ với Trung Quốc mà với cả Nga và Hàn Quốc. Trong thời kỳ đỉnh cao phát triển kinh tế hậu chiến của Nhật Bản thì những vấn đề này còn rất nhỏ, nhưng kể từ khi cán cân quyền lực trong khu vực thay đổi thì những diễn biến vừa qua đã làm lộ ra khả năng dễ bị tổn thương của Nhật Bản. Trong bối cảnh ấy, khi xu hướng thay đổi cán cân quyền lực kinh tế - chính trị càng trở nên rõ rệt hơn ở Đông Á thì nguy cơ xung đột sẽ ngày càng tăng thêm.

Hoàng Minh lược dịch theo 
http://www.historytoday.com/joyman-lee/senkakudiaoyu-islands-conflict

* Các tít phụ do ban biên tập tạp chí bổ sung.

Vĩnh Thuận sưu tầm - 22/9/2012