Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

LƯƠNG PHÚC ĐĂNG ẢNH

(BBT - 03/6/2012) Anh Lương Văn Phúc gửi email đề nghị sửa các lỗi trong "Bài ca Lớp 10G" của tác giả Hướng Dương và đăng vài ảnh kỷ niệm anh Phúc chụp.
Xin giới thiệu các ảnh từ máy ảnh anh Lương Phúc (bấm vào giữa ảnh để xem ảnh gốc có độ phân giải cao và kích thước lớn).


Hai ảnh gặp gỡ ở nhà Danh Tiến nhân dịp Quang Chương ra Hà Nội. Cô Ngọc vợ Tiến chiêu đãi mọi người món bánh mỳ nóng hổi do nhà làm, Hiệu trưởng Phú và PGS. Ân công nhận tuyệt ngon, Phúc và Thuận thì gật gù tranh thủ ăn. Mọi người có nhận thấy ổ bánh mỳ to đùng ở trước ảnh không? 



Ảnh tụ họp ở nhà hàng 19C Ngọc Hà, nhân dịp mừng Dương Duy Lưu hạ cánh về VN và Đỗ Thắng từ Đông Anh bay qua sông sang họp nhóm "nhà Ông Nghị" có Phúc, Lân, Điều, Tường, Thuận chứng kiến.


Ảnh họp mặt ở nhà lớp trưởng Ngọc (Kháng) để chuẩn bị về xứ hồng xiêm dự Hội trường Phổ thông cấp 3 Xuân Đỉnh 50 năm (1960-2010).


Đây là email của anh Lương Phúc:

Email và ảnh Lương Phúc gửi Blog XĐ10G
from:
 Luong van Phuc phuclv2010@gmail.com
to:
 vinhthuan51@gmail.com
date:
 Sun, Jun 3, 2012 at 9:40 AM
subject:
 v/v blog 10G

Phúc đã xem blog10G, các v/đ khác nói sau, riêng Bài ca 10G có một số lỗi, T sửa giúp ngay, nếu không thì hướng dẫn cách sửa, Phúc sẽ làm:

câu đầu "thuả 10G" sửa là "thuở 10G",
đoạn về Triểu: từ đúng là "gái hàng Mành",
về BM Tân: "Chàng Bùi.." chứ không phải "Anh Bùi...",
về Tuấn Hùng: "Sái nghiện" thay cho "Sái nghẹn",
về Vũ Phúc: "xưng ma" chứ k0 phải "xưng vua",
thứ tự mọi người so bản gốc có thay đổi nhưng kh0 quan trọng, nhưng lưu ý rằng tất cả các từ trong Tên Người và Tên Địa Danh đều phải viết HOA mới đúng chính tả.

P sẽ viết bài, tiện đây gửi vài ảnh để T gắn vào blog. Sẽ tìm ảnh gửi tiếp sau.

Thân. LgPhuc. 3-6-2012.




Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012

Ngắm bồng lai tiên cảnh ở Sơn La


                                              Gội đầu bên dòng suối

Cảnh mây bao quanh các đỉnh núi do Phùng Việt Hoàng gửi về VnExpress. 
Bạch Long G (longbachblog) chuyển sang file PPS và nhờ ISpring để đưa  lên đây. Một nét đẹp hoang sơ nơi núi rừng Tây Bắc.  

Mời bấm vào dòng dưới đây:

May giang Phu Yen Son La.swf


                                        Thác Dải yếm - Sơn La


(Vĩnh Thuận sưu tầm - 30/5/2012)

Thứ Tư, 16 tháng 5, 2012

VỀ GIẢ THUYẾT GOLDBACH



Tia Sáng - 10:22-16/05/2012 
Gần giải được giả thuyết yếu của Goldbach
Theo Nature News, 14/05/2012
Davide Castelvecci
Các nhà toán học gần tìm được lời giải cho một giả thuyết đã tồn tại qua gần ba thế kỷ.
Một trong những vấn đề chưa giải được cổ nhất của toán học cũng đồng thời là vấn đề dễ hiểu nhất. Giả thuyết yếu của Goldbach nói rằng ta có thể phân chia bất cứ số lẻ nào thành tổng của tối đa là ba số nguyên tố. Ví dụ:

35 = 19 + 13 + 3  hay  77 = 53 + 13 + 11

Nhà toán học Terence Tao của trường University of California, Los Angeles, nay đã gần hoàn tất một lời giải. Ông đã chứng minh được là mỗi số lẻ là tổng của tối đa năm số nguyên tố, và nay ông hi vọng có thể giảm từ năm xuống còn ba. 

Tao cho biết rằng, bên cạnh niềm ham muốn hóa giải một trở ngại đã thách đố những trí tuệ siêu việt nhất của nhân loại qua gần ba thế kỷ, việc giải quyết được mục tiêu hấp dẫn này cũng sẽ dẫn các nhà toán học tới những ý tưởng hữu ích trong cuộc sống – ví dụ như mã hóa những dữ liệu nhạy cảm.

Giả thuyết yếu Goldbach được đề xuất bởi một nhà toán học của thế kỷ 18, Christian Goldbach. Nó là họ hàng của một phát biểu khác liên quan tới các số chẵn, có tên là Giả thuyết mạnh Goldbach, nhưng thực ra lại được xây dựng bởi cộng sự của ông, nhà toán học Leonhard Euler. Giả thuyết mạnh khẳng định rằng mỗi số chẵn lớn hơn 2 là tổng của hai số nguyên tố. Như tên gọi của chúng phản ánh, nếu giả thuyết mạnh đúng thì giả thuyết yếu cũng đúng: để phân chia mỗi số lẻ thành tổng ba số nguyên tố, ta chỉ việc trừ 3 để tạo ra một số chẵn, và áp dụng giả thuyết mạnh đối với số chẵn này.  

Các nhà toán học đã kiểm chứng cả hai giả thuyết này trên máy tính cho tất cả mọi số nguyên tối đa là 19 ký tự, và họ chưa tìm thấy trường hợp nào bị sai. Hơn thế, với số càng lớn thì càng có nhiều cách để phân chia nó thành tổng của hai hoặc ba số nguyên tố. Nghĩa là giả thuyết càng dễ đúng với với những số lớn. Trong thực tế, các nhà toán học đã chứng minh rằng, giả sử tồn tại những ngoại lệ không đúng với giả thuyết mạnh, thì chúng sẽ càng hiếm với các số lớn dần tới vô cùng. Còn đối với giả thuyết yếu, một định lý cổ điển từ thập kỷ 1930 nói rằng, nếu có thì chỉ là hữu hạn một số những ngoại lệ. Nghĩa là ở những số “đủ lớn” thì sẽ không thể có ngoại lệ.

Cách làm của Tao là kết hợp kết quả kiểm chứng của máy tính ở những số “đủ nhỏ”, với kết quả lý thuyết áp dụng cho những số “đủ lớn”. Bằng việc cải thiện những tính toán với “rất nhiều bước ngoặt nhỏ”, ông nói, chúng ta sẽ thấy là hai tập số có sự chồng lấp nhau, ít ra là ở giả thuyết với năm số nguyên tố. 

Tao hi vọng có thể mở rộng cách làm của mình với giả thuyết về năm số nguyên tố. Nhưng cách giải này sẽ không giúp giải được giả thuyết mạnh. Giả thuyết yếu tương đối dễ hơn, Tao nói, vì việc phân chia một số thành tổng ba số khác sẽ “có nhiều cơ hội hơn để bạn gặp may, khi toàn bộ các số thành viên là số nguyên tố”.

Vậy là, sau một phần tư thiên niên kỷ từ ngày Goldbach mất, vẫn chưa ai tìm được một chiến lược để giải giả thuyết mạnh mà ông đặt ra.

TS dịch

http://www.nature.com/news/ mathematicians-come-closer-to-solving-goldbach-s-weak-conjecture-1.10636

(Vĩnh Thuận - 16/5/2012 - Theo Tạp chí Tia Sáng - 

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012

ẢNH VỀ NGÀY XƯA HÀ NỘI


Từ Blog của một bạn lính cùng thời đại học Tổng hợp, lại là cựu dân Xuân đỉnh, thấy những bức ảnh cũ về ngày xưa Hà thành, bèn rinh về để bà con Xuân Đỉnh cùng xem:

Hà nội xưa

Những ức ảnh đen trắng. Chụp Hà nội từ những năm tháng xưa lắm rồi. Hà nội ơi, sao mà đẹp vậy. Giờ đây, thành phố to rộng hơn, nhưng cái đẹp, cái thơ mộng của  Hà nội đã bị biến mất, mất vĩnh viễn. Nhìn lại những bức ảnh này để mà thèm, mà tiếc.


HaNoiNgayXua_2_(1)


Xem phải tải về máy, file dạng PPS, tác giả giữ bản quyền, không chuyển sang dạng xem trực tiếp được.

(Nguồn: Thư K.V - http://blgiang.wordpress.com/2012/04/20/ha-n%e1%bb%99i-x%c6%b0a/ )

VẬT LÝ LỚP G (2)

Bài này cóp về đây để bác Nhung hoặc Ân giảng giải cho tường "dây rợ vũ trụ mênh mang":


Tạp chí Tia Sáng - 04:25-04/05/2012 
Lý thuyết dây và thực nghiệm
Theo Nature News

Lý thuyết dây, do một nhóm các nhà vật lý, trong đó có nhà vật lý người Việt Đàm Thành Sơn, nghiên cứu, có thể là công cụ hữu ích để phân tích một số trạng thái kỳ lạ của vật chất, từ những quả bóng quark và gluon siêu nóng đến các nguyên tử siêu lạnh.

Jan Zaanen, một nhà vật lý chất rắn tại trường Đại học Leiden, Hà Lan mô tả hai nhóm nhà khoa học như sau: Các nhà lý thuyết dây là những người dành cả thời gian của họ để đeo đuổi một lý thuyết tinh tế, ở mức độ toán học cao. Đó là “lý thuyết cho mọi thứ”. Còn đồng nghiệp của họ là những người chỉ muốn tập trung vào bản chất của vật liệu thực trong phòng thí nghiệm.


Các nhà khoa học đang cố gắng kết nối những kiến thức này được thôi thúc bởi một khám phá trùng hợp đáng ngạc nhiên: phương trình lý thuyết dây có thể là công cụ hữu ích để phân tích một số trạng thái kỳ lạ của vật chất, từ những quả bóng quark và gluon siêu nóng đến các nguyên tử siêu lạnh. Chỉ riêng năm qua đã có ít nhất bốn hội thảo quốc tế để khuyến khích sự hợp tác giữa các lĩnh vực khác nhau này, trong đó có một hội nghị được tổ chức bởi Zaanen ở Leiden. 


Nhiều người vẫn hoài nghi rằng liệu liên minh kỳ lạ này có dẫn đến hiểu biết mới nào không, hay đó chỉ là sự kết hợp vì lợi ích. Ví dụ như lý thuyết dây gợi ý sự tồn tại của nhiều trạng thái mới của vật chất. Nhưng những dự đoán này quá khó để chứng minh và kiểm tra thực nghiệm bây giờ mới đang ở giai đoạn lập kế hoạch.


Trong lúc này lợi ích đối với từng bên là rất rõ ràng. Lý thuyết dây, từ lâu đã bị chê là không liên kết được với thực tế, đã nhận được tín nhiệm bằng thực nghiệm. Còn vật lý chất rắn có được một công cụ toán học mới - là lý thuyết dây mà truyền thông chưa bao giờ ưu ái.


Việc tác hợp bắt đầu cách đây khoảng chục năm bằng cuộc tái ngộ giữa Đàm Thanh Sơn và Andrei Starinets, hai người là sinh viên đại học và là bạn cùng ký túc xá tại Đại học Moscow những năm 1980. Đôi bạn mất tin tức của nhau lúc rời nước Nga sau khi chế độ cộng sản sụp đổ năm 1991. Nhưng năm 1999, Sơn đang làm tại Đại học Columbia ở thành phố New York, và nghe tin Starinets đang làm tiến sĩ về lý thuyết dây cách đó chỉ vài km tại Đại học New York. Do đó, Sơn đã đến thăm Starinest. 


Hợp tác là điều nằm xa nhất trong suy nghĩ của anh. Lý thuyết dây rất phong phú về mặt toán học và có sự quyến rũ không cưỡng lại được. Nhưng đó là vật lý ở thang 10-35 m (10 phần tỉ tỉ tỉ tỉ m) – ý tưởng này dành cho các hạt cơ bản dường như không thể phân chia được, ví dụ như các hạt quark và electron sẽ trở nên nhỏ bé, các ống năng lượng luôn rung động khi nhìn ở thang độ này. Nhưng sợi dây này có thể có độ lớn nhỏ hơn khoảng 20 thang độ so với một proton, làm cho lý thuyết này nằm ngoài tầm với của bất kỳ thực nghiệm kiểm chứng trực tiếp nào. Chuyên ngành của Sơn, ngược lại, cắm rễ sâu vào thực nghiệm: anh cố hiểu các tính chất của plasma quark– gluon, những quả cầu siêu nóng có thời gian sống rất ngắn được tạo thành khi những hạt nhân nặng như vàng va đập mạnh vào nhau trong máy gia tốc. Tất cả những gì liên quan đến dây đều xa lạ với anh. 


Ngoại trừ việc đó, khi Sơn nhìn thấy các tính toán của lý thuyết dây mà Starinets đang làm cùng với người bạn nghiên cứu sinh Giuseppe Policastro, anh nhận ra những phương trình này tương tự như những phương trình mà anh sử dụng để phân tích plasma. Ngay lập tức Sơn muốn biết chuyện gì đang xảy ra, và Starinets bắt đầu giải thích. Starinets và Policastro đã dựa trên ý tưởng được đưa ra bởi Juan Maldacena, nhà vật lý ở Đại học Havard ở Cambridge, Masachusetts. Maldacena bấy giờ đang ở viện nghiên cứu cao cấp Princeton, New Jersey, đã nhận ra rằng lý thuyết dây dự đoán một sự tương đương toán học giữa hai vũ trụ giả thuyết, một trong hai giống với vũ trụ của chúng ta. Ví dụ, nó cũng có ba chiều không gian và một chiều thời gian, và được lấp đầy bằng cùng nhiều loại hạt cơ bản, và tuân theo phương trình trường lượng tử quen thuộc. Nhưng nó không thể chứa dây hay trọng lực.


Còn vũ trụ kia thì ngược lại: chứa cả dây và trọng lực mạnh đến nỗi có thể tạo thành các lỗ đen – nhưng không có các hạt cơ bản. Nó cũng có thêm một chiều không gian. 


Tầm nhìn Maldacena thật đơn giản, khá táo bạo: xem bất kỳ quá trình bao gồm các và trường ở vũ trụ thứ nhất, ông nói, nó có thể được mô tả bằng một quá trình bao gồm trọng lực, lỗ đen và các dây ở vũ trụ thứ hai, và ngược lại. Các phương trình có thế rất khác nhau. Nhưng bản chất vật lý thì hoàn toàn giống nhau.


Nó giải thích vì sao Sơn nhìn thấy các phương trình quark – gluon trong tính toán lý thuyết dây, Starinets giải thích: đó là phương trình tương đương ba chiều của trường hấp dẫn mà anh và Policastro đang nghiên cứu trong vũ trụ bốn chiều.


PHỐI HỢP VÌ LỢI ÍCH


Việc nhảy qua nhảy lại giữa các vũ trụ thật khó hiểu ngay cả theo tiêu chuẩn lý thuyết dây (và còn khó hiểu hơn đối với những người không nghiên cứu lý thuyết dây, bởi vì Maldacena chỉ ra rằng phép chiếu không những chỉ đúng với không gian ba chiều và bốn chiều mà còn giữa bốn và năm chiều, năm và sáu chiều,…vv). Khi giáo sư Sơn và Starinets nói chuyện, họ nhận ra rằng phép chiếu Maldacena có thể là một công cụ giải toán hữu hiệu. Họ có thể bắt đầu bằng tập hợp một mớ lộn xộn các phép tính trường lượng tử trong thế giới thực ba chiều -  tức là các phương trình plasma quark – gluon – và chiếu những phương trình này lên không gian bốn chiều, mà trong đó các phương trình dường như dễ hơn rất nhiều. Sau đó họ có thể chiếu lại qua không gian ba chiều và lọc ra đáp án.





Việc này đã thành công. “Chúng tôi đã quay vòng các phép tính để cho ra một dự đoán của độ nhớt biên của plasma”, Sơn nói về một thông số mấu chốt của quả cầu quark – gluon. “Một người bạn của tôi trong ngành vật lý hạt nhân đã đùa rằng kết quả của chúng tôi là bài báo có ích đầu tiên của lý thuyết dây”, Sơn nói.


Năm 2008, dự đoán của nhóm đã được xác nhận lại tại máy gia tốc hạt ion nặng đóng ở phòng thí nghiệm quốc gia Blookhaven, Upton, New York. “Đây là kết quả định lượng chắc chắn và đến hôm nay nó vẫn là kết quả tốt nhất thu được từ phương trình liên kết lý thuyết dây với thực nghiệm”, Steve Gubser - một nhà lý thuyết dây tại Đại học Princeton, và là một trong những người tiên phong trong việc ứng dụng nguyên lý này cho các bài toán ở thế giới thực - nói.


Thành công của nhóm đồng thời cũng nhận được sự quan tâm của Subir Sachdev, nhà lý thuyết chất rắn tại Harvard. Cũng như Sơn đã nhìn thấy plasma trong các phương trình của Starinets, Sachdev nhìn thấy sự chuyển pha tới hạn lượng tử - sự thay đổi trạng thái tìm thấy ở vật chất khi chúng gần đến độ không tuyệt đối, khi các tác dụng của cơ học lượng tử bắt đầu chiếm ưu thế. “Chúng tôi sử dụng từ ngữ khác nhau”, ông ấy nói “nhưng về bản chất vật lý thì giống nhau”.


Sachdev đã hy vọng rằng ý tưởng của Maldacena có thể cung cấp cho ông và đồng nghiệp sự giúp đỡ cần thiết để khảo sát lĩnh vực không mấy thuận lợi này.


Trong vài thập kỷ vừa qua, các nhà thực nghiệm đã khám phá ra một loạt các trạng thái lượng tử chiếm ưu thế kỳ lạ- bao gồm chất siêu dẫn cho phép dòng điện truyền qua mà không có điện trở; chất siêu lỏng không có độ nhớt và có thể bò lên thành cốc: ngưng tụ Bose- Einstein làm từ các nguyên tử chuyển động từng bước giống như một “siêu nguyên tử” đơn; và kim loại “kỳ dị” có biểu hiện hoàn toàn khác so với kim loại thông thường. Nhưng các nhà vật lý vẫn không có cách nào để dự đoán những gì sẽ đến tiếp theo. “Chúng ta còn không thể trả lời câu hỏi cơ bản là tồn tại bao nhiêu pha vật chất”, Sean Hartnoll, một nhà lý thuyết dây ở Đại học Stanford tại California nói.


Cố gắng đầu tiên của Sachdev là áp dụng ý tưởng của Maldacena lên vật liệu trong phòng thí nghiệm đem lại kết quả là hai bài báo mà ông là đồng tác giả vào năm 2007, một là với Sơn và một đồng nghiệp của Sơn, và một bài khác cùng với nhóm trong đó có Hartnoll. Kể từ đó, Sachdev và các cộng sự đã xây dựng một phương pháp để tính dẫn xuất của kim loại lạ dựa vào các tính chất của lỗ đen trong vũ trụ bốn chiều của lý thuyết dây. Đây là một kỹ thuật mà John Mc Greevy tại viện kỹ thuật Massachsetts ở Cambridge và cộng sự cũng đeo đuổi. Kết quả là những nhóm này đã tạo lại được các tính chất lạ thường của kim loại ở nhiệt độ thấp. Họ cũng đã chiếu tính chất lỗ đen bốn chiều trong lý thuyết dây lên điều kiện mà ở đó nhiều vật liệu sẽ đổi pha thành các trạng thái khác ngoài chất rắng, lỏng và khí quen thuộc. “Bây giờ chúng tôi đã có một công cụ mạnh mẽ hoàn toàn mới để giải quyết các bài toán mà tôi đã nghiên cứu trong 20 năm qua”, Sachdev nói.


Sự tham gia của Sachdev đã kích thích sự quan tâm của các nhà vật lý chất rắn khác. “Phần lớn chúng tôi tham gia vào lĩnh vực này bởi vì sự lôi cuốn của tính cách và danh tiếng của Subir - chúng tôi nhận thấy rõ rằng nếu ông ấy coi vấn đề này là nghiêm túc, thì chúng tôi cũng nên làm như vậy”, Andrew Green, một nhà vật lý rắn ở Đại học St Andrwes, Anh nói.


Sự cộng tác với lĩnh vực chất rắn dường như hoàn hảo để kết nối lý thuyết dây với thực tế. Nếu không có gì khác, nó hứa hẹn sẽ cho ra vô số kết quả - khoảng 10500 lời giải cho phương trình cơ bản của nó, mỗi lời giải mô tả vũ trụ khả dĩ có kích thước, hình dạng, chiều và các định luật vật lý riêng. Thông qua ý tưởng của Maldacena, nhà lý thuyết Jerome Gautlett tại Đại học Hoàng gia London nói, “mỗi lời giải có thể được diễn tả bằng vô số vật liệu đang chờ khám phá”.


Phần thưởng chia đều cho nhau, Zaanen nói: “Nếu tôi nói về chất siêu dẫn và lỗ đen trong một buổi nói chuyện, mọi người bị thu hút bởi nó giống như con ong bị thu hút bởi mật vậy”. “Bây giờ, nó đang mang đến bầu nhiệt huyết tươi trẻ cho vật lý chất rắn, như là sự lựa chọn đầu tiên của nó”.


Sự tác hợp này đôi khi vẫn có nhiều mâu thuẫn. Mọi người đồng ý rằng các nhà vật lý chất rắn còn nhiều do dự về việc tác hợp này hơn là các nhà lý thuyết dây. “Tôi đã thất bại trong việc thuyết phục các nhà vật lý chất rắn cho phép các nhà lý thuyết dây thuyết trình tại các hội nghị lớn của họ”, Zaanen nói. “Họ e ngại rằng họ cần phải học lý thuyết dây để nói chuyện được với những người kia. Giống như tôi hỏi họ về việc uống cà phê với những sinh vật ngoài Trái đất”.


Polchinski thừa nhận sự hoài nghi về chất rắn là có cơ sở. “Tôi không nghĩ rằng các nhà lý thuyết dây đem lại điều gì mà các nhà vật lý chất rắn chưa biết”, ông ấy nói. Các kết quả định lượng dường như chỉ là việc tìm lại các câu trả lời mà các nhà vật lý chất rắn đã tìm ra thông qua các phương pháp thông thường.
Và còn tệ hơn, một vài dự đoán có thể kiểm chứng được từ lý thuyết dây trông quá kỳ dị khi khìn từ quan điểm chất rắn. Ví dụ như, các tính toán đề nghị rằng khi một vài chất tinh thể được làm lạnh tới độ không tuyệt đối, chúng sẽ đạt tới một trạng thái có năng lượng sàn thấp nhất. Nhưng điều đó vi phạm định luật thứ 3 của nhiệt động học, nói rằng những vật liệu này chỉ có duy nhất một trạng thái cơ bản. 


Để xóa tan sự hoài nghi, các nhà lý thuyết đang bận rộn tìm kiếm các dự đoán có thể được để tìm ra bằng chứng xác thực nhất về sự hữu ích của việc cộng tác. Nhóm của Gauntlett, và các nhóm khác đang tìm kiếm cấu hình của lỗ đen trong vũ trụ lý thuyết dây để vạch ra các hiện tượng chuyển pha chưa được khám phá. Kỹ xảo là phải tìm ra vật chất có thể hiện sự chuyển pha này. Gaunlett nói: “Hy vọng rằng với kỹ thuật tiên tiến, các nhà thực nghiệm sẽ có khả năng chế tác ra vật chất có các tính chất mà chúng ta sự đoán”.


Sachdev đang áp dụng lý thuyết dây vào một vấn đề nhiều thách thức: tính toán sự biến động của độ dẫn đối với nhiệt độ khi các nguyên tử siêu lạnh chuyển từ trạng thái siêu lỏng tới một trạng thái cô lập khác. Ông ấy nghĩ rằng dự đoán của ông có thể được kiểm chứng trong vài năm tới.


Ngay cả khi chương trình này thành công thì lợi ích qua lại vẫn còn giới hạn. Lý thuyết dây có thể đưa ra một mớ tính chất để tìm kiếm, và các dự đoán về việc chúng sẽ thay đổi như thế nào trong các thí nghiệm. Nhưng nó sẽ không bao giờ đưa ra được một lý thuyết giải thích làm sao những tính chất này tạo thành từ các tính chất của electron. Tương tự như vậy, thí nghiệm xác minh các dự đoán của lý thuyết dây về chất rắn sẽ không chứng minh được rằng chính lý thuyết dây là lý thuyết mô tả chính xác nhất của thực tế.


Nhưng có lẽ, Green chỉ rõ mối quan hệ với vật chất sẽ chỉ ra rằng mọi người đã nhầm một cách cơ bản về lý thuyết dây. “Có thể lý thuyết dây không phải là lý thuyết duy nhất của thực tế mà có thể là cái gì đó sâu xa hơn – tập hợp các nguyên lý toán học có thể được sử dụng để liên kết tất cả các lý thuyết vật lý chẳng hạn”. Green cho hay, “Có thể lý thuyết dây là phép toán mới”.


Hoàng Thanh Phi Hùng dịch

(Vĩnh Thuận - 11/5/2012)

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

VẬT LÝ LỚP G (1)

Lớp ta có nhiều nhà vật lý tài năng: PGS. Nguyễn Bá Ân, GS. Đào Trần Cao, PGS. Trần Hồng Nhung. Tôi xin chép bài này để tìm hiểu về vật lý hiện đại và hỏi các Giáo sư Vật lý của Lớp mình cho hiểu.
(Bài gốc: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&News=5070&CategoryID=2 )


Khoa học
06:04-10/04/2012 

Vũ trụ là số?

Cao Chi (tổng hợp và phân tích)

Các bit thông tin là cơ bản, năng lượng và vật chất
là sản phẩm (John Archibald Wheeler)

Tạp chí Scientific American số tháng 2/2012 có đăng bài viết «  Is Space Digital  » của Michael Moyer về một thí nghiệm đang được tiến hành ở Chicago bởi Craig Hogan( Giám đốc Trung tâm Vật lý thiên văn và các hạt cơ bản, Phòng thí nghiệm gia tốc Quốc gia Fermi, GS Đại học Chicago, Illinois ) nhằm đo tiếng ồn toàn ảnh (holographic noise)  biểu hiện  mối liên quan sâu xa giữa thông tin, vật chất và không thời gian . Nếu tồn tại tiếng ồn toàn ảnh  thì theo Craig Hogan vũ trụ của chúng ta là số (digital) và chúng ta có một hình mẫu (paradigm ) mới   cho vũ trụ quan của thế kỷ 21. Vũ trụ không  liên tục mà là gián đoạn  gồm bằng những bit thông tin. Vũ trụ 3D đột sinh (emerge) từ những bit thông tin chứa trên một mặt 2D.




Craig HOGAN

Thế nào là phương pháp toàn ảnh (holography) ?

Như chúng ta biết trong quang học có phương pháp ghi một vật thể 3 chiều bằng một ảnh 2 chiều  (hologram).Kỹ thuật này gọi là holography (phương pháp toàn ảnh). Chữ holography có gốc từ tiếng Hy lạp holos whole ( toàn thể ) + graphe writing (ghi ảnh). Đây là một phương pháp chụp ảnh hiện đại. Holography được sáng chế năm 1948 bởi nhà vật lý người Hung Dennis Gabor (1900-1079), nhờ thành tích này ông được nhận giải Nobel năm 1971.

Entropy và diện tích chân trời sự cố của lỗ đen

Jacob Bekenstein chứng minh rằng khi một lượng vật chất rơi vào lỗ đen thì entropy của lỗ đen tăng lên để bù trừ vào  entropy do lượng vật chất mất đi. Nói cách khác entropy của lỗ đen và vật chất chung quanh không giảm, đó là định luật 2 trong nhiệt động học lỗ đen. Năm 1970 Hawking & Demetrious Christodoulou (đại học Princeton) độc lập với nhau chứng minh rằng A - diện tích lỗ đen, ở chân trời sự cố (event horizon) không giảm theo thời gian: t2 > t1 ® A(t2³ A(t1), từ đó Jacob Bekenstein có cơ sở để đồng nhất entropy với A (thêm một hệ số là 1/4), xem  hình 1.



Hình 1.  Entropy của một lỗ đen tỷ lệ với diện tích bề mặt của chân trời sự cố (tức ranh giới có vào mà không có ra đối với mọi vật, kể cả ánh sáng khi rơi vào lỗ đen). Một lỗ đen với diện tích chân trời sự cố  là A (trong đơn vị diện tích  Planck = 10 – 66 cm 2) sẽ có A / 4 đơn vị entropy. Xét từ quan điểm thông tin  diện tích chân trời được phủ bởi các bit 1 và 0, mỗi bit chiếm 4 đơn vị diện tích Planck.

Hai loại entropy (thống kê & thông tin)
Như chúng ta biết, entropy được biểu diễn qua số trạng thái lượng tử theo công thức:
s- số chiều không gian.

Năm 1948 nhà toán học người Mỹ Claude E. Shannon đã đưa vào thông tin khái niệm entropy. Entropy thông tin trong một thông điệp là số bit cần thiết để mã hoá thông điệp đó. Khái niệm entropy của Shannon làm xích gần vật lý thống kê với thông tin.

John Archibald Wheeler quan niệm rằng “thế giới vật lý là được cấu tạo bằng thông tin với năng lượng và vật chất chỉ là những yếu tố dẫn, những sản phẩm phụ (incidentals)”.

Theo Bekenstein: “Entropy nhiệt động và entropy Shannon là tương đương , số cấu hình tính theo entropy Boltzmann phản ảnh số lượng  thông tin Shannon mà chúng ta cần có để thu xếp một cấu hình" của vật chất và năng lượng.

Sự khác nhau giũa entropy nhiệt động học của vật lý và entropy thông tin của Shannon chỉ là vấn đề đơn vị đo. Entropy nhiệt động học tính bằng đơn vị năng lượng chia cho nhiệt độ trong khi entropy Shannon lại không có thứ nguyên là “bit” của thông tin do đó sự khác nhau chỉ là vấn đề quy ước.

Bekenstein đã giải quyết vấn đề nghịch lý thông tin trong lỗ đen nhờ phát hiện rằng entropy của lỗ đen –có nghĩa là nội dung thông tin của lỗ đen- tỷ lệ với diện tích chân trời.

Nguyên lý toàn ảnh (Holographic principle) 

Nguyên lý toàn ảnh được gợi ý ( inspired) từ nhiệt động học lỗ đen và tổng quát hóa cho mọi vật.Trong lỗ đen mọi thông tin của lỗ đen đều được mã hóa trên mặt biên  chân trời sự cố (event horizon).Đây là xuất phát điểm của nguyên lý toàn ảnh.

Các nhà vật lý Leonard Susskind và Gerard’t Hooft muốn tổng quát hóa nguyên lý toàn ảnh từ lỗ đen (Jacob Bekenstein & Stephen Hawking) sang toàn vũ trụ.

Năm1993 Gerard ‘t Hooft đề ra nguyên lý holographic: theo nguyên lý này tồn tại một vật lý nD trên mặt biên (không gian n chiều) mô tả được hoàn toàn vật lý (n+1)D của hệ nằm trong mặt biên (không gian n+1 chiều).

Theo nguyên lý holographic các quy luật vật lý trên mặt biên (xem là hologram) mô tả tương tác giữa các hạt như quark, gluon trong khi các quy luật vật lý của không gian nằm trong mặt biên được mô tả bởi lý thuyết siêu dây như thế có chứa cả hấp dẫn.

Năm 1997, tác giả Maldacena (đại học Harvard) đã thực hiện nguyên lý holography nhờ thiết lập mối quan hệ sau[1] :

Một vũ trụ mô tả bởi lý thuyết siêu dây  (như vậy có hấp dẫn) trong một không-thời gian anti-de Sitter 5 chiều  tương đương với một lý thuyết trường lượng tử conform (không chứa hấp dẫn) trên mặt biên 4 chiều của không-thời gian đó (xem hình 2).  
  


Hình 2 . Lý thuyết trường conform (CFT)  trên mặt biên (hologram ) tương đương với lý thuyết dây có hấp dẫn trong không gian anti-de Sitter ( ánh xạ holographic : AdS / CFT )

Vì sao mà nguyên lý toàn ảnh trở nên quan trọng cho vật lý lượng tử?
Vì bài toán số một hiện nay của vật lý là thống nhất được hai lý thuyết lớn nhất của thời đại: lý thuyết lượng tử và lý thuyết tương đối rộng thu được nhiều tia sáng từ nguyên lý toàn ảnh.

Có thể tóm tắt ý tưởng chính của nguyên lý toàn ảnh  như sau: thông tin của một vùng không gian có hấp dẫn có thể mã hoá  không có hấp dẫn trên mặt biên của vùng không gian đó, nói cách khác có thể thiết lập một mối tương quan giữa các đại lương trên mặt biên với các đại lượng trong vùng.

Yếu tố quan trọng  ở đây là thông tin.

Từ kỹ thuật đến sinh học, vật lý, thông tin đóng vai trò quan trọng. Các protein không thể nào tổng hợp được nếu không có thông tin từ DNA. Nguyên lý toàn ảnh khẳng định rằng entropy của một khối lượng bình thường (không phải lỗ đen) cũng tỷ lệ với diện tích chứ không phải thể tích. Thể tích chỉ là ảo ảnh và vũ trụ thật sự là một hologram đẳng cấu (isomorphic) với thông tin được “ghi khắc” trên mặt biên.

Làm thế nào để biết là chúng ta đang ở trong một hologram?
Tiếng ồn toàn ảnh là gì?


Craig Hogan  đã viết nhiều bài báo tiên đoán sự tồn tại của một tiếng ồn gọi là tiếng ồn toàn ảnh (holographic noise)  có thể ghi đo được. Tiếng ồn này là biểu hiện của một loại bất định kích cỡ Planck nếu tồn tại một hologram của vũ trụ (xem thêm [2]). Dường như các nhà thực nghiệm đã ghi đo được tiếng ồn này với tần số 300 và 1500 Hertz .

Craig Hogan cho rằng nếu nhìn sâu vào những phân chia vô cùng nhỏ của  không thời gian chúng ta sẽ thấy vũ trụ được chiếm đầy bởi một tiếng ồn nội tại gọi là tiếng ồn toàn ảnh (holographic noise).

Tiếng ồn đó xuất phát từ những  bit. Chúng ta có khả năng phát hiện tiếng ồn số đó của vũ trụ và tiếng ồn đó chúng tỏ rằng vũ trụ là một vũ trụ số ( universe is digital) [3].

Khi đi vào cấu trúc sâu của không thời gian chúng ta sẽ thấy   vũ trụ được cấu tạo không phải bằng vật chất và năng lượng mà lại bằng những bit. Thông tin hoạt động trên những bit và từ những bit đó tạo nên vũ trụ.

Craig Hogan kiến thiết một thí nghiệm để phát hiện tiếng ồn toàn ảnh.Và nếu vũ trụ được cấu tạo như thế nghĩa là từ các bit thông tin thì diều này sẽ làm thay đổi kiến trúc của vũ trụ.Craig Hogan nghiên cứu những kích cỡ mà ở đấy thông tin tồn tại như những  bit (information lives as bits).

Hấp dẫn lượng tử dẫn đến độ dài Planck  l P = 1,616.10 -33 cm, ánh sáng đi qua độ dài đó trong thời gian  t P=  l P /c = 5.10 -44 sec.

Kích cỡ Planck là kích cỡ nhỏ nhất. Và những bit cơ bản của thông tin nằm trong kích cỡ Planck.

Leonard Susskind phát biểu rằng chính thông tin làm nên sụ khác nhau giữa các đối tượng.
Theo nguyên lý holographic (nguyên lý toàn ảnh )  nếu ném một vật vào lỗ đen thì vật ấy có thể biến mất song thông tin về vật đó được ghi lại trên một mặt nằm quanh lỗ đen. Thông tin không bao giờ mất. Theo nguyên lý toàn ảnh vũ trụ 3D của chúng ta đột sinh từ thông tin đã được in trên một mặt 2D gọi là tờ ánh sáng (light sheet). Tờ ánh sáng đây là chân trời sự cố của vũ trụ. Chúng ta thực tế là một hình chiếu (projection) Tờ ánh sáng (light sheet) 2D theo nguyên lý toàn ảnh chứa các thông tin về tọa độ của mỗi hạt nằm trong tờ, mỗi electron, quark và neutrino và mọi lực tương tác giữa chúng. Tờ ánh sáng chiếu mọi thông tin nằm trong tờ ra ngoài vũ trụ và tạo nên mọi điều chúng ta thấy. Vũ trụ đột sinh từ các bit 0 và 1. Các nhà khoa học cho rằng vũ trụ hoạt động như một máy tính, thông tin đã tạo nên thế giới vật lý song máy tính đó vẫn còn là một hộp đen đối với họ.

Nguyên lý toàn ảnh có thể là sụ thống nhất của lượng tử và hấp dẫn. Nguyên lý toàn ảnh là một kim chỉ đường  đến hấp dẫn lượng tử.

Nếu vũ trụ là vũ trụ số thì đây là một kim chỉ đường tiếp theo dẫn đến hấp dẫn lượng tử. Trong một vũ trụ số không gian bản thân đã được lượng tử hóa, không gian đột sinh từ những bit lượng tử gián đoạn ở kích cỡ Planck.

Nếu không gian là lượng tử thì phải chịu  sự  bất định (incertainties) của CHLT(Cơ học lượng tử). Ta sẽ có những thăng giáng dạng bọt (foamlike fluctations).

Vì rằng thể tích của vũ trụ rộng lớn hơn diện tích chân trời Hogan hiểu rằng để có cùng một số bit như trên diện tích chân trời thì vũ trụ phải được cấu tạo bởi những hạt (grain) lớn hơn độ dài Planck nói cách khác vũ trụ của chúng ta phải bị nhòe đi (blurry), mờ đi (hình 3). Tương tự như khi  ta xem TV ta thấy mọi vật dường như đều mịn nhưng nếu nhìn sâu vào đó ta sẽ có những pixels.

Thực hiện những thí nghiệm với năng lượng tương ứng với kích cỡ Planck  là điều vô vọng vì chúng ta cần những máy gia tốc lớn bằng cả Thiên hà. Song nghiên cứu những thăng giáng do tiếng ồn toàn ảnh là điều khả thi vì kích cỡ của chúng chỉ bằng khoảng 10 -16 m.

Nếu chúng ta nằm trong một hologram, ta có thể biết được điều đó bằng cách đo độ mờ này.
Báo NewScientist viết rằng có thể vũ trụ là một hologram khổng lồ.



Hình3.  Nếu chúng ta nằm trong một hologram thì chúng ta có thể kiểm nghiệm được điều đó bằng cách đo độ mờ toàn ảnh  (tương tự như độ mờ của một ảnh chiếu).

Nếu xét những vùng không gian rất nhỏ ở kích cỡ Planck dưới quan điểm lượng tử, tất nhiên ta  phải có theo CHLT (cơ học lượng tử) một hệ thức chứa độ dài Planck l P . Trong giả thuyết của mình Hogan đưa ra hệ thức

[z1,z2] = l P L   

Như vậy  có một sự thay đổi trong CHLT theo đó toán tử tọa độ (position operators) tại những thời điểm khác nhau có thể không giao hoán và giao hoán tử tỷ lệ với  l P và quãng đường đi L.

Trong đó z1, z2 là tọa độ theo chiều thẳng góc với đường đi của ánh sáng nối liền hai điểm 1 & 2 và   L=khoảng cách không gian giữa 2 điểm 1 & 2.

Trong CHLT thì giao hoán tử trên bằng không. Từ giao hoán tử trên người ta thu được hệ thức bất định

Δz1 Δ z2 > l P L/2

Các hệ thức này dẫn đến một độ mờ bằng  ∆z 2  >  lPL.  Đây là nguồn gốc tiếng ồn toàn ảnh.
Tiếng ồn đó theo Hogan chính là độ mờ (fuzziness) của cấu trúc của không thời gian ở độ phân giải Planck.  Vậy tiếng ồn toàn ảnh chính là độ mờ liên quan đến bất định theo chiều thẳng góc với đường đi của ánh sáng.

Holometer (holographic interferometer)- giao thoa kế toàn ảnh 

Nếu thông tin về nội vùng của các lỗ đen được mã hóa trên chân trời sự cố thì rất có thể là mọi thông tin về vũ trụ của chúng ta được mã hóa trên tờ ánh sáng gọi là chân trời của vũ trụ (Universe's horizon).

Đây có thể nói là một giả thuyết cần kiểm nghiệm, giả thuyết này được xây dựng từ mối tương tự với  lỗ đen.

Nếu vũ trụ là một hình chiếu toàn ảnh từ chân trời vũ trụ thì hình chiếu đó sẽ bị mờ (fuzzy). Mặc dầu mọi thông tin để tạo nên vũ trụ được mã hóa trong những bit kích cỡ Planck trên chân trời vũ trụ, các bit đó trong phép chiếu sẽ được phóng đại theo thời gian giống như một tia ánh sáng xuất phát từ một máy chiếu lên bức tường. Chính độ mờ này (fuzziness) là điều mà Hogan cho là tiếng ồn trong GEO600 .

GEO600 là một dự án  hợp tác giữa  Viện Vật lý hấp dẫn  Max Planck, Đại học Leibniz Hannover, Đại học Cardiff, Đại học Glashow và Đại học Birmingham. GEO600 là một detector dài  600 m, xây dựng tại Hannover (Đức) có mục tiêu tìm sóng hấp dẫn phát ra từ những thiên thể như sao neutron, lỗ đen. Hiện nay GEO600  chưa tìm ra sóng hấp dẫn song  phát hiện  một tiếng ồn không giải thích được trong detector của họ.

Tại Fermilab Hogan xây dựng một thiết bị gọi là toàn ảnh ký (holometer) cũng để ghi  tiếng ồn ấy.
      
                                  Hình 4. Giao thoa ký toàn ảnh (holographic interferometer= holometer)

Máy toàn ảnh ký gồm hai giao thoa ký riêng biệt (xem hình 4 ) kết dính với nhau. Trong mỗi giao thoa ký một tia ánh sáng được tách làm đôi và đi theo hai hướng khác nhau. Sau khi đập vào một cái gương các tia sáng lại kết tụ với nhau và độ lệch pha sẽ được đo.

Nhờ có hai giao thoa  ký các nhà nghiên cứu có thể so sánh các kết quả đo. Mọi tiếng ồn với tần suất cao sẽ được ghi nhận như là sự run rẩy của không thời gian hay nói cách khác đó là tiếng ồn toàn ảnh.

Tiếng ồn này có tần số khoảng 1 triệu chu kỳ trong một sec. Nếu quả tiếng ồn này tồn tại thì  thế giới  3D là hình chiếu từ  bản chất thực tại 2D của vũ trụ.

Tính chất phỏng đoán đó lộ rõ hơn ở những khoảng cách lớn. Một thiết bị như holometer có thể đo những khoảng cách theo chiều thẳng góc và đó là đối tượng của một loại bất định mới. Tiếng ồn đó sẽ được thu vào trong một detector.

Trên hình 5 ta có đồ thị tiếng ồn toàn ảnh biểu diễn căn số trung bình bình phương ( rms-root mean square) của các biên độ thăng giáng toàn ảnh thẳng góc.


    
Hình 5. Đường “tiếng ồn toàn ảnh “ biểu diễn căn số  trung bình bình phương ( rms-root mean square) của các biên độ thăng giáng toàn ảnh thẳng góc.Trục hoành là log của kích thước L của thiết bị( là khoảng đường đi của ánh sáng). Các giao thoa kế laser  tham chiếu là :LISA  Laser Interferometer Space Antenna, LIGO Laser Interferometer Gravitational-wave Observatory, GEO600  Laser interferometer với cánh tay dài  600 m.

Kết luận

Thí nghiệm trên holometer đang tiếp tục tiến hành và nếu tiếng ồn toàn ảnh được khẳng định thì đây là một bước ngoặt quan trong trong vật lý: vũ trụ của chúng ta là số (digital), nghĩa là thực thể cơ bản là nhũng bit thông tin còn vật chất và năng lượng chỉ là những vật dẫn, những sản phẩm tiếp theo. Điều đó cũng có nghĩa là không thời gian không còn liên tục mà gián đoạn nghĩa là tự động được lượng tử hóa. Đây là một ý tưởng dẫn đường đến hấp dẫn lượng tử, một sự thống nhất thuyết lượng tử và hấp dẫn. Mọi vật 3D của thế giới chúng ta đột sinh (emerge) từ các bit thông tin ở độ phân giải Planck nằm trên biên 2D của vũ trụ.
                                                            
Tài liệu tham khảo & chú thích

[1]  Không gian anti de Sitter (AdS)  n chiều là không gian hyperbolic n chiều tương tự như không gian Lorentz có độ cong âm.   Nhóm conform=nhóm đối xứng gồm các biến đổi kích thước không thời gian+biến đổi Lorentz.Không gian AdS và biến đổi conform xuất hiện  trong ánh xạ AdS / CFT ( Anti de Sitter / conform Field Theory ). 

[2] Cao Chi , Vật lý hiện đại , những vấn đề thời sự từ Bigbounce đến vũ trụ toàn ảnh, chương VIII/4, NXB Tri thức, 2011.

[3] Nhiều nhà vật lý chủ trương một khả năng khác là tồn tại những chiều dư (extra dimensions) ngoài không thời gian thông thường (như nhiều lý thuyết đã khẳng định). Những chiều dư này có thể gây nên dộ mờ của không gian 3 chiều trong những vùng rất nhỏ kích cỡ Planck.

Xin xem thêm bài về Vũ trụ toàn ảnh:


(Vĩnh Thuận - 14/4/2012)



Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012

NGUYỄN XUÂN THẮNG CẢNH BÁO


(Vĩnh Thuận - 7/4/2012) - Sáng nay trời mưa to, không ra Bách Thảo cà phê được, lang thang trên mạng, đọc bài trên Blog Bọ Lập thấy hay hay, xin chép ra đây để bà con 10G Xuân Đỉnh coi ý kiến của Chủ tịch Nguyễn Xuân Thắng nhà ta.


Nước đổ đầu vịt

Đăng bởi: Nguyễn Quang Lập | 06.04.2012
Hôm nay ( 3/4/2012), báo Tiền Phong đưa tin: ông Hà Quang Long , Giám đốc Sở TT-VH-DL Quảng Ninh cho biết : “Sau khi Tổ chức New 7 Wonder trao giấy chứng nhận, ngày 27-4, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch sẽ tổ chức đón bằng công nhận kỳ quan thế giới Hạ Long với quy mô lớn tại sân vận động Mỹ Đình.” Thế là bao nhiêu nổ lực của giới truyền thông cảnh báo về sự thật của cái gọi là “kết quả bình chọn 7 kỳ quan thế giới” đều như nước đổ đầu vịt.
Không thể tin nổi khi Vịnh Hạ Long được công nhận một trong 7 kỳ quan thế giới nhờ vào 24 triệu tin nhắn của chính những công dân Việt Nam bình chọn, một sự công nhận kiểu “ mèo khen mèo dài đuôi”, lại có thể làm “nức lòng” một số quan chức Bộ TT-VH-DL và Sở TT-VH-DL tỉnh Quảng Ninh. Cũng không thể tin nổi người ta có thể vinh dự tự hào khi cái giấy chứng nhận kỳ quan thế giới Hạ Long chỉ là của  New7Wonders, một công ty tư nhân do nhà leo núi người Thụy Sĩ Bernard Weber điều hành, không hề liên quan gì đến Unesco- Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc.
 New7Wonders không hề có uy tín nào trong việc định giá các di sản văn hóa của thế giới, tầm ảnh hưởng của nó còn bé hơn cả một số trang web nổi tiếng ở Việt Nam. Tìm hiểu thông tin về N7W qua Alexa, một trang mạng cho hay: “new7wonders.com xếp hạng 22,607 trên thế giới và hạng 31,656 tại Mỹ. Trong khi đó, cùng thời điểm, trang vnexpress được xếp hạng 386 trên thế giới và hạng 1,167 tại Mỹ.” Chỉ chừng đó thôi cũng đủ biết uy tín của New7Wonders!
Ông Nguyễn Xuân Thắng – Chủ tịch Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam, người đại diện cho UNESCO , ngay từ  2007 đã nhiều lần cảnh báo về cái gọi bình chọn 7 kì quan của New7 Wonder, rằng “Với một cuộc chơi dễ dãi kiểu NOWC, nguy cơ một thói quen tranh giành, ganh đua dễ dãi để được tôn vinh sẽ hình thành trong tiềm thức của thế hệ trẻ”, rằng “Đó là một “phần thưởng” không bao hàm các giá trị công pháp quốc tế, không mang tính ràng buộc, trách nhiệm và nghĩa vụ.”
Ngay chính Unesco cũng đã tuyên bố: “Mặc dù nhiều lần được mời ủng hộ N7W, nhưng UNESCO quyết định không hợp tác với ông Weber… Cần xác định các tiêu chuẩn khoa học, xác định giá trị của các ứng viên.” Theo đó Unesco đã khẳng định kết quả bầu chọn của N7W là không chính xác và không có khoa học. Chẳng cần đến  tuyên bố của Unesco người ta cũng thừa hiểu việc bình chọn không cần bất kì một tiêu chí nào, chỉ căn cứ vào số lượng tin nhắn không hạn chế cho mỗi mobile là cuộc bình chọn dành cho những kẻ thích tự sướng, một kiểu thủ dâm văn hóa rất nguy hiểm. Nói như nhà báo Al-Sayed người Ai Cập, “cuộc chơi” do NOWC chủ trì không những “đã tấn công vào các nền văn minh” mà còn thúc đẩy một cuộc chạy đua khích lệ ý thức dân tộc hẹp hòi trong một bộ phận công chúng ở các quốc gia.”
Đến đây đủ biết tấm bằng của New7Wonders chẳng những vô giá trị mà còn phản văn hóa, không thể nói khác hơn. Điều này Bộ TT-VH-DL không thể không biết.  Vậy thì hà cớ gì lại tổ chức đón nó rầm rộ với “qui mô lớn”?  Rõ là hài hước.
Than ôi văn hóa nước nhà suy đồi đến thế này chăng!
Nguyễn Quang Lập